- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Quốc T phạm tội trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Quốc T . Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2026/HS-PT Ngày 07 tháng 4 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà; Bà Nguyễn Thị Hương Giang
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Bách - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 07 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/TLPT-HS ngày 09/02/2026 đối với bị cáo Lê Quốc T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HSST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6-Bắc Ninh.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Quốc T, sinh năm 1993; Nơi thường trú: Ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Chí H1, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Mộng C, sinh năm 1972; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Phương H2, bà Tạ Thị L - Luật sư, Công ty L1, thuộc đoàn luật sư tỉnh B. Địa chỉ: Số E, Hồ N, phường K, tỉnh Bắc Ninh, (có mặt).
* Vụ án còn có bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến nội dung kháng cáo kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu tháng 3/2025, Lê Quốc T đến quán K, địa chỉ: Đường N, phường V, tỉnh Bắc Ninh làm nhân viên phục vụ phòng thì có quen biết chị Vũ Thị H3 cũng là nhân viên của quán. Khoảng cuối tháng 7/2025, do T hay chơi điện tử trên điện thoại trong giờ làm nên bị quản lý của quán Karaoke cho nghỉ làm. Sau khi nghỉ làm, T đi xin việc làm ở nhiều nơi nhưng không được. Ngày 01/8/2025, T đến căn hộ S tòa V, chung cư V, tổ dân phố H, phường V, tỉnh Bắc Ninh do chị H3 thuê để ở nhờ trong khoảng thời gian tìm việc làm. Căn hộ số 706 tòa V1 có 02 phòng ngủ riêng biệt, trong đó: 01 phòng ngủ T và chị H3 ở, phòng còn lại chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1999, nơi thường trú: Thôn D, xã A, tỉnh Thanh Hóa và chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1998, nơi thường trú: Thôn P, xã H, thành phố Hà Nội ở. Hằng ngày, T ở phòng còn chị H3, chị H2 và chị N đi làm nhân viên phục vụ tại quán K đến 02 giờ ngày hôm sau. Khi ở cùng, T thấy chị H3 có một khoản tiền tiết kiệm cất trong 01 hộp kim loại hình chữ nhật, màu xám đen để trong ngăn kéo phía dưới tủ quần áo trong phòng ngủ của chị H3. Do không có việc làm, hết tiền ăn tiêu nên T nảy sinh ý định trộm cắp tiền của chị H3, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 19 giờ ngày 01/8/2025, sau khi chị H3, chị H2 và chị N đi làm, T mở ngăn kéo tủ quần áo của chị H3 lục tìm chiếc hộp sắt đựng tiền của chị H3 thì thấy hộp bị khóa không mở được, T lục tìm trong các ngăn kéo quần áo thì phát hiện 01 chìa khóa rồi dùng chìa khóa này mở hộp đựng tiền của chị H3 thì mở được khóa. Khi mở, T thấy trong hộp có một sấp tiền mệnh giá 500.000 đồng và 10 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. T cầm một sấp tiền mệnh giá 500.000 đồng đếm được 40 tờ là 20.000.000 đồng thì lấy đút vào túi quần bên phải đang mặc. Sau khi lấy tiền, T khóa hộp sắt lại rồi để hộp đựng tiền và chìa khóa về vị trí cũ để không bị chị H3 phát hiện. Sau đó, T đi xuống quán nước của anh Phạm Quang H4, sinh năm 1976, nơi thường trú: Khu N, phường K, tỉnh Bắc Ninh ở trước cửa chung cư C TNT trên đường L, phường V, tỉnh Bắc Ninh, lúc này chị Nguyễn Thị Hải V, sinh năm 2001 là cháu của anh H4 đang bán nước, T nói với chị V “Chú đưa tiền mặt rồi chuyển vào tài khoản cho chú”, chị V đồng ý. Sau đó, T cung cấp cho chị V mã QR số tài khoản 8834273514 mở tại Ngân hàng B của T và đưa cho chị V số tiền 3.000.000 đồng, chị V gửi số tài khoản của T cho anh H4 bảo chuyển tiền nhờ, anh Hiệp đồng Ý rồi sử dụng tài khoản 2560274456 mở tại Ngân hàng B của anh H4 chuyển số tiền 2.980.000 đồng vào tài khoản của T (đã trừ 20.000 đồng tiền nước). Khoảng 21 giờ 29 phút cùng ngày, T tiếp tục đến quán nước gặp chị V để nhờ chuyển số tiền 5.550.000 đồng, chị V đồng ý và tiếp tục gửi mã QR số tài khoản của T cho anh H4 để chuyển tiền, anh Hiệp đồng Ý rồi sử dụng tài khoản 2560274456 mở tại Ngân hàng B của anh H4 chuyển số tiền 5.460.000 đồng vào tài khoản của T (đã trừ 40.000 đồng tiền nước). Khoảng 22 giờ 50 phút cùng ngày, T đến quán T3 của chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982, nơi thường trú: Số nhà B, đường N, tổ dân phố H, phường V, tỉnh Bắc Ninh mua đồ và đưa cho chị T1 số tiền 7.000.000 đồng nhờ chị T1 chuyển vào tài khoản của T số tiền 6.900.000 đồng (đã trừ 100.000 đồng tiền mua đồ tại quán), chị T1 đồng ý và dùng số tài khoản 105875853580 mở tại Ngân hàng V1 của chị T1 chuyển số tiền 6.900.000 đồng vào tài khoản của T. Đến khoảng 01 giờ 43 phút ngày 02/8/2025, T quay lại quán tạp hóa của chị T1 mua đồ hết 50.000 đồng sau đó nhờ chị T1 chuyển vào tài khoản của T số tiền 5.450.000 đồng. Tổng số tiền T nhờ anh H4 và chị T1 chuyển vào tài khoản của T là 20.790.000 đồng (trong đó: 20.000.000 đồng Thống trộm cắp của chị H3, 790.000 đồng là tiền của T).
Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 02/8/2025, T ở phòng một mình đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng đồng của T vào Google rồi đăng nhập vào nhiều trang Game trên mạng (không rõ địa chỉ) tham gia nhiều Game trò chơi, muốn nâng cấp và lên level yêu cầu phải nạp tiền qua mã QR trang Game gửi để mua nhân vật, mua đồ nâng cấp. Trong khoảng thời gian từ 03 giờ 44 phút đến 10 giờ 03 phút ngày 02/8/2025, T đã chuyển từ tài khoản của T vào tài khoản game (qua mã QR do trang game cung cấp) 05 lần với tổng số tiền 39.000.000 đồng (lần 1 lúc 03:44:47 nạp 6.000.000 đồng; lần 2 lúc 04:02:52 nạp 6.000.000 đồng; lần 3 lúc 04:38:53 nạp 9.000.000 đồng; lần 4 lúc 07:27:12 nạp 9.000.000 đồng; lần 5 lúc 10:03:51 nạp 9.000.000 đồng) để nâng cấp nhân vật, mua đồ và lên level hết.
Lần thứ 2: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 02/8/2025, khi chị H3, chị H2, chị N đi làm, T tiếp tục mở hộp đựng tiền của chị H3 lấy toàn bộ số tiền còn lại là 49.000.000 đồng (gồm 94 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng là 47.000.000 đồng; 10 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng là 2.000.000 đồng) mang đi đổi thành tiền tài khoản để tiếp tục nạp vào tài khoản game để chơi. Khoảng 19 giờ 30 phút, T đi xuống quán nước của anh Phạm Quang H4 ở trước cửa chung cư C TNT trên đường L, phường V, tỉnh Bắc Ninh thì thấy cháu Phạm Minh Đ, sinh năm 2009 là con của anh H4 đang bán nước, T nói với cháu Đ “Quán có chuyển tiền không cháu” thì cháu Đ bảo “Có”. Sau đó, T đưa cho cháu Đ số tiền 10.500.000 đồng và cung cấp cho cháu Đức mã QR số tài khoản 8834273514 mở tại Ngân hàng B của T, cháu Đ gửi số tài khoản của T cho anh H4 nhờ chuyển khoản, anh Hiệp đồng Ý rồi sử dụng tài khoản 2560274456 mở tại Ngân hàng B của anh H4 chuyển số tiền 10.440.000 đồng vào tài khoản của T (đã trừ 60.000 đồng tiền nước). Khoảng 22 giờ 20 phút, T đến cửa hàng tạp hóa của chị T1 mua đồ hết 100.000 đồng và nhờ chị T1 chuyển số tiền 13.900.000 đồng. Khoảng 23 giờ 17 phút, T tiếp tục đến cửa hàng tạp hóa của chị T1 mua đồ hết 100.000 đồng và nhờ chị T1 chuyển số tiền 9.900.000 đồng. Khoảng 01 giờ 08 phút ngày 03/8/2025, T quay lại cửa hàng tạp hóa của chị T1 mua đồ hết 65.000 đồng và nhờ chị T1 chuyển số tiền 7.535.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ 58 phút ngày 03/8/2025, T đến quán nước của anh H4 gặp cháu Đ và nói với cháu Đ chuyển cho cho T số tiền 7.000.000 đồng vào tài khoản của T, cháu Đ đồng ý và nhờ anh H4 chuyển cho T số tiền 7.000.000 đồng. Tổng số tiền T nhờ anh H4 và chị T1 chuyển vào tài khoản là 48.775.000 đồng. Sau khi nhờ chuyển tiền vào tài khoản, T đã 03 lần chuyển tiền vào tài khoản game (qua mã QR do trang game cung cấp) với tổng số tiền 24.300.000 đồng (lần 1 lúc 23:20:00 nạp 9.900.000 đồng; lần 2 lúc 01:08:41 nạp 7.500.000 đồng; lần 3 lúc 20:00:05 nạp 6.900.000 đồng) để chơi game hết.
Tổng số tiền T nhờ anh H4 và chị T1 chuyển vào tài khoản của T là 69.565.000 đồng. Tổng số tiền T nạp vào tài khoản Game để chơi game là 63.300.000 đồng (trong đó: 44.300.000 đồng là tiền của chị H3, 19.000.000 đồng tiền của T). T khai nhận số tiền 535.000 đồng số tiền mà anh H4 và chị Thanh T2 đi khi chuyển khoản cho T là tiền T mua nước và mua đồ dùng cá nhân tại quán của anh H4, chị T1. Còn lại số tiền 24.700.000 đồng trong tổng số tiền 69.000.000 đồng Thống trộm cắp của chị H3, T nhờ anh H4 và chị T1 chuyển khoản vào tài khoản của T nhưng T không nạp vào tài khoản game mà dùng vào việc chi tiêu, mua sắm đồ dùng cá nhân hết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành thu giữ của Lê Quốc T: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng đồng, số IMEI: 353813084442044 đã qua sử dụng.
- Từ nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HSST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh đã xét xử và quyết định: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Quốc T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/8/2025.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
- Sau khi án sơ thẩm xử xong, ngày 09/01/2026 bị cáo Lê Quốc T có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Bắc Ninh tuyên phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là quá nặng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày: Bị cáo thay đổi lại kháng cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo vì gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HSST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh.
Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Quốc T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/8/2025.
Về án phí hình sự sơ thẩm: xác nhận bị cáo đã thi hành xong
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 2 Nghị Quyết 03/VBHN-TANDTC ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, cho bị cáo được hưởng án treo.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Trong 02 ngày 01/8/2025 và ngày 02/8/2025, tại căn hộ S tòa V, chung cư V, phường V, tỉnh Bắc Ninh, Lê Quốc T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 69.000.000 đồng của chị Vũ Thị H3 để nạp tiền chơi game và chi tiêu cá nhân, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 01/8/2025, T lén lút trộm cắp số tiền 20.000.000 đồng (gồm 40 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng), sau đó nhờ người khác chuyển tiền vào số tài khoản 8834273514 mở tại Ngân hàng B của T để nạp hết vào các game trò chơi trên mạng để chơi.
Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/8/2025, T lén lút trộm cắp số tiền 49.000.000 đồng (gồm 94 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 10 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng), sau đó nhờ người khác chuyển tiền vào số tài khoản 8834273514 mở tại Ngân hàng B của T rồi nạp số tiền 24.300.000 đồng vào các game trò chơi trên mạng để chơi, số tiền còn lại T đã dùng vào việc chi tiêu cá nhân hết.
Tổng số tiền bị cáo trộm cắp của chị H3 là 69.000.000 đồng, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, Toà sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo:
. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
+ Toà sơ thẩm đã xác định: Bị cáo có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã chủ động đến cơ quan công an đầu thú; bị cáo tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
+ Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, luật sư bào chữa cho bị cáo có nộp tài liệu chứng cứ thể hiện bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và giấy khen của bố bị cáo là ông Lê Chí H1 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V tặng giấy khen gia đình công dân tiêu biểu trong công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ năm 2018. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt thì thấy: Toà sơ thẩm xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ hình trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nhưng xét thấy bị cáo tuổi còn trẻ, lười lao động, chỉ vì không có tiền chơi game, bị cáo lén lút chiếm đoạt số tiền của bạn bị cáo ngay tại nơi bị cáo ở nhờ, chứng tỏ bị cáo là kẻ coi thường pháp luật, do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Đối với ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo sống xa gia đình, việc bị cáo phạm tội có tính chất tức thời không phải là chuyên nghiệp, bị cáo chiếm đoạt tài sản đi chơi game là để giải toả tâm lý căng thẳng, bị cáo hai lần phạm tội nhưng đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo là không phù hợp.
. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Quốc T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh về phần hình phạt đối với bị cáo.
. Đối với số tiền 200.000 đồng luật sư bào chữa cho bị cáo đã nộp theo biên lai số 0001071 ngày 06/4/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh được trừ vào tiền án phí hình sự sơ thẩm đã tuyên tại bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HSST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh. (Xác nhận bị cáo đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm theo bản án số 45/2025/HSST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh).
. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Quốc T . Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.
2. Xử: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc T 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/8/2025.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Xác nhận bị cáo đã thi hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0001071 ngày 06/4/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
4. Án phí phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Phòng HSNV- Công an tỉnh Bắc Ninh; - Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh; - VKS, TA khu vực 6 - Bắc Ninh; - Phòng THADS khu vực 6 - Bắc Ninh; - Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo; - Lưu HS, HCTP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngọ Thị Thanh Hảo |