- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị N và anh H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị N được ly hôn anh Võ Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2026/HNGĐ - ST Ngày: 22 - 4 - 2026 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Hoàn và bà Vương Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân khu vực 2 - Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân dân khu vực 2 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 171/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2026/QĐXX - ST ngày 23 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị N, sinh năm 1994. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: xóm B, xã T, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: O, O, Y, tsukamoto,6-7-8 Gransocie Tsukamoto 2-306. Vắng mặt. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị N: Chị Kim Thị D, sinh năm 1996; Địa chỉ: Xã T, tỉnh Nghệ An; Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 2003; Địa chỉ: Xóm A, phường Q, tỉnh Nghệ An; Chị Nông Thị N1, sinh năm 1987; Địa chỉ: K, phường T, tỉnh Nghệ An; Anh Phạm Văn T1, sinh năm 2003; Địa chỉ: Xã G, tỉnh Nghệ An; Chị Hoàng Thị L, sinh năm 2003; Địa chỉ: số E N, khối T, phường T, tỉnh Nghệ An. Chị D có mặt; anh T1, chị N1, chị L vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Võ Văn H, sinh năm 1989. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: xóm B, xã T, tỉnh Nghệ An. Hiện đang lao động tại nước ngoài – không rõ địa chỉ. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Văn T2, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1957. Địa chỉ: xóm B, xã T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án - nguyên đơn chị Đặng Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị N và anh Võ Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An - nay là xã T, tỉnh Nghệ An vào ngày 08/11/2014 và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà của bố mẹ chồng tại xóm B, xã N, tỉnh Nghệ An. Năm 2019, cả chị và anh H đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản. Hai con chung nhờ bố mẹ chồng là ông Võ Văn T2, bà Nguyễn Thị L1 chăm sóc. Quá trình chung sống chị và anh H thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau. Hiện nay chị N không còn tình cảm với anh Võ Văn H nữa nên đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Võ Văn H.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Đặng Thị N và anh Võ Văn H có 02 con chung là Võ Thị Minh H1, sinh ngày 03/12/2015 và Võ Văn H2, sinh ngày 16/10/2017. Khi ly hôn, chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Trong thời gian chị đang làm việc tại Nhật Bản thì chị nhờ mẹ chồng chị là bà Nguyễn Thị L1 chăm sóc cháu Võ Văn H2 và nhờ mẹ đẻ chị là bà Nguyễn Thị H3 chăm sóc cháu Võ Thị Minh H1. Các chi phí về tiền công chăm sóc cháu Võ Thị Minh H1 thì giữa chị với mẹ đẻ chị tự thoả thuận với nhau, không đề nghị Toà án xem xét, giải quyết. Trường hợp mẹ chồng chị là bà Nguyễn Thị L1 không đồng ý với việc chị nhờ chăm sóc cháu Võ Văn H2 trong thời gian chị đi xuất khẩu lao động thì chị nhờ mẹ đẻ chị chăm sóc cả hai con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Võ Văn H: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Võ Văn H vắng mặt. Chị Đặng Thị N không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh H cư trú, chị chỉ biết hiện nay anh H đang sinh sống tại Nhật Bản. Tòa án đã hai lần gửi văn bản yêu cầu ông Võ Văn T2 và bà Nguyễn Thị L1 (là bố mẹ đẻ của anh H) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu thông báo với anh H để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, tại đơn trình bày ông Võ Văn T2 cho biết thời gian ở nước ngoài, anh H thường xuyên liên lạc về với gia đình qua điện thoại còn địa chỉ cụ thể của anh H ở nước ngoài thì anh H không cung cấp nên ông không biết. Ông T2 đã thông báo cho anh H biết về việc Tòa án nhân dân khu vực 2- Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị N và anh H; anh H đồng ý ly hôn với chị N. Về việc giải quyết vụ án thì ông T2 yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Võ Văn T2, bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Chị Đặng Thị N và anh Võ Văn H có 02 con chung là Võ Thị Minh H1, sinh ngày 03/12/2015 và Võ Văn H2, sinh ngày 16/10/2017. Từ khi sinh ra cho đến nay thì các cháu ở với ông bà, đặc biệt là từ khi chị N, anh H đi nước ngoài thì ông bà hoàn toàn trực tiếp chăm sóc các cháu. Mặc dù anh H cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài nhưng anh H vẫn làm nghề đầu bếp và hàng tháng, hàng năm đều gửi tiền về nuôi cha mẹ và các con. Còn chị N mặc dù có địa chỉ cư trú hợp pháp ở Nhật Bản nhưng từ năm 2018 đến nay, chị N không có trách nhiệm nuôi con, chỉ được 3 lần về thăm con vào năm 2024 nhưng không hề có trách nhiệm về việc hỗ trợ tài chính để nôi con và không có sự kết nối tình cảm với các con nên các cháu cũng không gắn bó với mẹ. Do vậy các ông bà đề nghị giao các cháu cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện tại do anh H đang đi làm ăn xa nên ông bà nhận trách nhiệm tạm nuôi các cháu và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký; Hội đồng xét xử đã thực hiện hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Về quan hệ hôn nhân: chị Đặng Thị N được ly hôn với anh Võ Văn H.
Về con chung: Giao các con chung là Võ Thị Minh H1, sinh ngày 03/12/2015 và Võ Văn H2, sinh ngày 16/10/2017 cho anh Võ Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm giao các cháu cho ông Võ Văn T2, bà Nguyễn Thị L1 chăm sóc trong thời gian chị N và anh H đi lao động nước ngoài. Về vấn đề cấp dưỡng, chị N không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.
Về án phí: theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình có đương sự hiện đang ở nước ngoài. Bị đơn có địa chỉ trước khi xuất cảnh là xóm B, xã T, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2- Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Về thủ tục tố tụng: Anh Võ Văn H hiện đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể, ông Võ Văn T2 và bà Nguyễn Thị L1 (là bố mẹ đẻ của anh Võ Văn H) đã thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân khu vực 2-Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu ông T2, bà L2 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh H ở nước ngoài nhưng ông T2, bà L2 không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh Võ Văn H trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đặng Thị N nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết theo quy định tại khoản 1 điều 10 Nghi quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Đặng Thị N vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn anh Võ Văn H vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.
Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị N và anh Võ Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, tỉnh Nghệ An) vào ngày 08/11/2014 và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Căn cứ vào Điều 9, Điều 10 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì hôn nhân của chị Đặng Thị N và anh Võ Văn H là hợp pháp.
Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Cho đến năm 2019, vợ chồng đều ra nước ngoài để làm ăn. Cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách khác biệt. Chị N, anh H đã có thời gian dài không chung sống với nhau. Bố của anh Võ Văn H cũng thừa nhận nội dung chị N và anh H chung sống có nhiều mâu thuẫn, chị N thuê nhà ở riêng và cắt đứt liên lạc với anh H và gia đình bên nội, không chu cấp gì cho các con. Như vậy, đời sống hôn nhân của chị N và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Đặng Thị N được ly hôn anh Võ Văn H.
Về con chung: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của ông Võ Văn T2, bà Nguyễn Thị L1 - là bố mẹ đẻ của anh Võ Văn H thì xác định: Trong thời kỳ hôn nhân, chị N và anh H có 02 con chung là Võ Thị Minh H1, sinh ngày 03/12/2015 và Võ Văn H2, sinh ngày 16/10/2017. Các con chung hiện điều ở cùng với ông T2, bà L1.
Khi ly hôn, chị Đặng Thị N có nguyện vọng tiếp tục được trực tiếp nuôi dưỡng cả 2 con chung và đề nghị Toà án tạm giao cho mẹ chị N nuôi dưỡng cháu Minh H1, tạm giao cho mẹ anh H là bà Nguyễn Thị L1 nuôi cháu H2.
Hội đồng xét xử thấy rằng, cháu Võ Thị Minh H1 và cháu Võ Minh H4 ở cùng ông Võ Văn T2, bà Nguyễn Thị L1 từ khi mới sinh ra cho đến nay, từ năm 2018, ông T2 và bà L1 là người trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu. Cả anh Võ Văn H và chị Võ Thị N2 đều đi làm ăn xa nhưng anh H vẫn còn thường xuyên liên lạc và gửi chi phí nuôi con cho ông T2, bà L1. Đến tại thời điểm xét xử, chị N2 chưa có tài liệu chứng minh về việc có kết nối và có trách nhiệm nuôi con trong thời gian chị N2 đi làm ăn ở nước ngoài. Đồng thời, cháu Võ Thị Minh H1 và cháu Võ Minh H4 đều có nguyện vọng được ở cùng anh Võ Văn H và tiếp tục ở cùng với ông bà nội. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cần giao cho anh Võ Văn H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tạm giao các cháu Võ Thị Minh H1 và Võ Minh H4 cho ông Võ Văn T2, bà Nguyễn Thị L1 chăm sóc trong thời gian anh Võ Văn H đi lao động ở nước ngoài, chưa về Việt Nam.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Đặng Thị N phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 56, 58, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Khoản 1 Điều 28, Điều 35; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 469, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi năm 2025;
- Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị N được ly hôn anh Võ Văn H.
2. Về con chung: Giao con chung là Võ Thị Minh H1, sinh ngày 03/12/2015 và Võ Văn H2, sinh ngày 16/10/2017 cho chị Đặng Thị N được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
Tạm giao cho ông Võ Văn T2, bà Nguyễn Thị L1 quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Võ Thị Minh H1, sinh ngày 03/12/2015 và Võ Văn H2, sinh ngày 16/10/2017 trong thời gian anh Võ Văn H đi làm ăn xa, chưa về Việt Nam.
Chị Đặng Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai yêu cầu nên không giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đặng Thị N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003328 ngày 02/12/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 2-Nghệ An.
5. Chị Đặng Thị N có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày. Anh Võ Văn H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 2-Nghệ An; - UBND xã Trung Lộc; - Phòng THADS khu vực 2; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoa |