vanban.org

Bản án 56/2026/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Giao con chung là cháu Nguyễn Bá V, sinh ngày 22/4/2012 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị H yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Nghị định số 74/2024/NĐ-CP Quy định mức lương tối thiểu đối…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2026/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 6 - 2026
“V/v: Tranh chấp thay đổi người
trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đăng Khoa – Cán bộ hưu trí

2. Bà Nguyễn Thị Tuyết – Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại hội trường Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 52/2026/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2026 về việc “Thay đổi người trực tiếp nôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/5/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2026/QĐST-HNGĐ ngày 17/06/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Buôn M, xã M, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Bá M, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Thôn B, xã K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2021/QĐST-HNGĐ ngày 28/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện M’Drắk, Bà H và ông M ly hôn, ông M trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Bá V, sinh ngày 22/4/2012, bà H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Hoài T sinh ngày 17/01/2006 (đã trưởng thành) và Nguyễn Bá N sinh ngày 19/11/2019, ông M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với Nguyễn Bá N 2.000.000đồng/tháng.

Quá trình thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của ông M không đầy đủ và thường xuyên, tuy nhiên bà H không có ý kiến và yêu cầu gì về cấp dưỡng nuôi con chung đối với Nguyễn Bá N.

Từ ngày 06/8/2024, Nguyễn Bá V không sống cùng ông M nữa vì ông M sống chung với người phụ nữ khác, V đề nghị được sống cùng với bà H nên ông M đã chở V về sống cùng với bà H. Từ đó đến nay, bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, lo việc ăn ở, học tập của V không gián đoạn thời gian. Giữa bà H và ông M không có thoả thuận gì về việc cấp dưỡng trong khoảng thời gian này, ông M không cấp dưỡng bất kỳ khoản tiền nào để nuôi Việt.

Theo đơn khởi kiện, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Thay đổi người trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Bá V, sinh ngày 22/4/2012 theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2021/QĐST-HNGĐ ngày 28/5/2021. Cụ thể: Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Nguyễn Bá V, sinh ngày 22/4/2012 cho đến khi thành niên.

- Yêu cầu ông M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung Nguyễn Bá V là 2.000.000đ/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Đồng thời yêu cầu ông M phải trả cho bà H tiền cấp dưỡng từ ngày 06/8/2024 đến ngày 06/8/2026 là 48.000.000đ (thời điểm V đến sống cùng với bà H ngày 06/8/2024).

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bà H sửa đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con từ 06/8/2024 đến ngày 06/6/2026 là 44.000.000đ.

Hiện nay bà H đang làm nghề nông và đi làm thuê, thu nhập không ổn định. không thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Ông M làm nghề chủ thầu xây dựng, thu nhập cao nhưng không ổn định và không xác định được thu nhập cụ thể, ông M không thuộc hộ nghèo, cận nghèo.

* Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai bị đơn ông Nguyễn Bá M trình bày:

Từ năm 2021, vợ chồng ly hôn và cũng đã được Tòa án nhân dân huyện M'Drắk đã giải quyết xong đối với vợ chồng sau đó ông M đã hỏi ý kiến Nguyễn Bá V, muốn ở với ai, thì cháu V trả lời muốn ở với ông M. Do đó, ông M đã chuyển khẩu cho V vào Thôn B, xã K, tỉnh Đắk Lắk sinh sống và học tập. Sau đó, bà H (mẹ cháu V) bảo chuyển cháu ra ngoài thị trấn học vì ông M cũng đi làm ăn xa. Ông M có hỏi cháu V về ở với ông M nhưng cháu V trả lời là con về với mẹ. Nếu nguyện vọng của cháu V muốn ở với ba thì để ba lo hết về tương lai sau này. Còn cháu V có nguyện vọng muốn ở với mẹ thì ông M cũng đồng ý theo yêu cầu của con và sau này nếu có chuyện gì về học hành và tương lai thì cháu V không được trách ông M là người không có trách nhiệm với con. Mọi chi phí các loại như đau ốm, học hành, có chuyện gì xảy ra thì ông M không chịu trách nhiệm. Người nào nuôi dưỡng người đó phải lo hết và chịu trách nhiệm hoàn toàn với con.

* Tại bản tự khai ngày 07/05/2026 cháu Nguyễn Bá V trình bày:

Vào năm 2021, bố mẹ cháu ly hôn, cháu ở với bố tại thôn B, xã K, tỉnh Đắk Lắk đến năm 2024. Do bố có quen biết người phụ nữ khác nên cháu chuyển sang sống với mẹ và học tập ở đây cho đến nay. Trong thời gian cháu sống với mẹ được mẹ quan tâm, chăm sóc đầy đủ nên cháu muốn được tiếp tục sống cùng với mẹ. Vậy nên cháu muốn bố là ông Nguyễn Bá M mỗi tháng chu cấp cho cháu 2.000.000đồng để hỗ trợ mẹ là bà Nguyễn Thị H để nuôi cháu đến khi cháu 18 tuổi.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) và thư ký phiên tòa tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 81, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/UBTVQH quy định về án phí năm 2016:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Giao con chung là cháu Nguyễn Bá V, sinh ngày 22/04/2012 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Bá M có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung 2.000.000đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Thời gian cấp dưỡng tính ngày 06/8/2024.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con”. Bị đơn có hộ khẩu tại xã K, tỉnh Đắk Lắk. Đây là tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. HĐXX cần áp dụng khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, xét xử vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn sửa đổi một phần yêu cầu khởi kiện về thời gian yêu cầu tính cấp dưỡng nuôi con từ tháng 8/2024 đến tháng 6/2026. Việc sửa đổi yêu cầu khởi kiện không vượt quá yêu cầu khởi kiện nên HĐXX cần chấp nhận.

Về nội dung:

Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

Nguyên đơn và bị đơn có ba con chung là Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 17/01/2006; Nguyễn Bá V, sinh ngày 22/4/2012 và Nguyễn Bá N, sinh ngày 19/11/2019.

Căn cứ Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2021/QĐST-HNGĐ ngày 28/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk: Ông M trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Bá V; Bà H trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thị Hoài T và Nguyễn Bá N. Ông V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với con chung Nguyễn Bá Nhất là 2.000.000đồng/tháng.

Căn cứ vào lời khai của các đương sự, con chung và người làm chứng xác định con chung Nguyễn Bá V đã sinh sống với bà H từ ngày 06/8/2024 cho đến nay. Bà H có công việc, thu nhập và chổ ở ổn định, đảm bảo đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Ông M thường xuyên đi làm xa vắng nhà. Do đó, cháu V đã có nguyện vọng sống cùng với mẹ. Ông M đã chở V đến ở cùng bà H và được bà H chấp nhận là tự nguyện, không bị ép buộc hoặc trái với nguyện vọng của con chung từ ngày 06/8/2024 không bị ngắt quãng về thời gian. Trong thời gian sống với bà H được bà H quan tâm, chăm sóc đầy đủ nên cháu V muốn được tiếp tục sống với bà H. Xét thấy nguyện vọng của cháu V là chính đáng, phù hợp với tình trạng thực tế và cần được xem xét nhằm đảm bảo quyền lợi cho con chung.

Xét thấy việc thay đổi người trực tiếp nuôi con từ ông M sang bà H là cần thiết, phù hợp với Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình và đảm bảo tốt hơn quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. HĐXX cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Giao con chung là cháu Nguyễn Bá V cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con:

Căn cứ lời khai của bị đơn tại bản tự khai (BL28): “cháu V có nguyện vọng muốn ở với mẹ thì ông M cũng đồng ý theo yêu cầu của con và sau này nếu có chuyện gì về học hành và tương lai thì cháu V không được trách ông M là người không có trách nhiệm với con. Mọi chi phí các loại như đau ốm, học hành, có chuyện gì xảy ra thì ông M không chịu trách nhiệm. Người nào nuôi dưỡng người đó phải lo hết và chịu trách nhiệm hoàn toàn với con.”.

Lời khai của nguyên đơn và con chung cháu V thể hiện từ khi V về sống cùng với nguyên đơn từ ngày 06/8/2024 đến nay, bị đơn không chu cấp tiền nuôi con chung đối với Nguyễn Bá V. Bị đơn không thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Nguyên đơn và bị đơn không xác định được mức thu nhập cụ thể, không thỏa thuận được với nhau về việc cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ Điều 82, 83, 107, 110 116 Luật Hôn nhân gia đình, Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024. Ông M không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà H. Cháu Nguyễn Bá V chưa thành niên, cần có sự chăm sóc và đóng góp kinh tế từ cả cha và mẹ. Căn cứ Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ “Quy định mức lương tối thiểu đối với người lao đồng làm việc theo hợp đồng lao động” xác định xã K, tỉnh Đắk Lắk thuộc vùng IV, mức lương tối thiểu tháng 3.450.000đ. Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình” mức cấp dưỡng không được thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với Nguyễn Bá V là phù hợp. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Bá V mỗi tháng 2.000.000đồng kể từ ngày 06/8/2024 cho đến khi con chung Nguyễn Bá V đủ 18 tuổi.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQUH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch 300.000đồng về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch 300.000đồng về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, 110, 116, 117 118 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 3 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQUH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Giao con chung là cháu Nguyễn Bá V, sinh ngày 22/4/2012 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

2. Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, buộc ông Nguyễn Bá M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Bá V 2.000.000đồng(Hai triệu đồng)/tháng cho bà Nguyễn Thị H cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 06/8/2024.

3. Về án phí:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001640 ngày 06/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

- Bị đơn ông Nguyễn Bá M phải chịu 300.000đ tiền án phí DSST về cấp dưỡng nuôi con.

4. Quyền kháng cáo:

- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định..

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ