- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Le Thi O"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị O.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 160 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK Bản án số: 56/2026/DS-ST Ngày: 22/04/2026 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Đình Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà H' Hương Bkrông và bà Lê Thị Thanh Hương.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk đã đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 10/2025/TLST-DS ngày 17/7/2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2026/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 03 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số: 81/2026/QÐST-DS ngày 02 tháng 04 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị O.
Địa chỉ: Đường N, phường B, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị T.
Địa chỉ: Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị P.
Địa chỉ: Đường Y, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Do mối quan hệ quen biết, từ ngày 26/8/2021 đến ngày 28/02/2023, bà Lê Thị O cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị P vay tổng số tiền 849.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 26/8/2021 vay 533.000.000 đồng; Ngày 15/11/2021 vay 100.000.000 đồng; Ngày 28/11/2021 vay 60.000.000 đồng; Ngày 16/02/2023 vay 26.000.000 đồng và ngày 28/02/2023 vay 130.000.000 đồng. Mục đích vay mượn tiền là để trả tiền xe và tiền lãi suất cho Ngân hàng.
Thời hạn vay do các bên thỏa thuận khi nào bà O cần tiền thì báo trước vài ngày cho phía bị đơn biết để thu xếp trả lại tiền, lãi suất thỏa thuận theo Ngân hàng. Tuy nhiên, khi bà O cần tiền và thông báo nhiều lần, ông H và bà P liên tục khất lần, không có thiện chí trả nợ. Do đó, bà O đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị P phải trả số tiền nợ gốc 849.000.000 đồng và tiền lãi suất theo quy định pháp luật tính từ ngày làm đơn khởi kiện.
Tại bản tự khai và biên bản hòa giải, bị đơn bà Lê Thị P trình bày: Xác nhận có vay mượn tiền của bà O nhiều lần tổng số tiền là 849.000.000 đồng như nguyên đơn trình bày là đúng. Tuy nhiên, bị đơn cho rằng các khoản vay ngày 26/8/2021 (533 triệu), ngày 15/11/2021 (100 triệu), ngày 28/11/2021 (60 triệu), ngày 16/02/2023 (26 triệu) đã thanh toán xong; riêng khoản vay ngày 28/02/2023 (130 triệu) đã thanh toán một phần. Nay bị đơn xác định chỉ còn nợ bà O số tiền 246.000.000 đồng và đồng ý trả khoản này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định pháp luật, bị đơn không tuân thủ. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm trả 849.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi 10%/năm từ ngày khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do bất khả kháng. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.
. Về nội dung vụ án: Việc các bên xác lập quan hệ vay tiền với tổng số gốc 849.000.000 đồng là có thật, được các bên thừa nhận và có ký nhận giấy xác nhận. Bị đơn cho rằng đã thanh toán xong phần lớn các khoản vay và chỉ còn nợ 246.000.000 đồng nhưng không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh, nguyên đơn cũng không thừa nhận. Do đó, lời trình bày của bị đơn là không có căn cứ. Yêu cầu khởi kiện buộc trả số tiền gốc 849.000.000 đồng của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.
. Về tiền lãi: Khi vay các bên không thể hiện cụ thể mức lãi suất tại giấy vay, nay nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày khởi kiện theo quy định của pháp luật là phù hợp. Số tiền lãi được tính cụ thể: 849.000.000 đ × (10%/năm × 10 tháng + 19 ngày) = 75.230.000 đ (đã làm tròn). Tổng số tiền gốc và lãi bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn là 924.230.000 đ.
. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thực hiện nghĩa vụ. Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp thay.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 160, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị O.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị P có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị O số tiền gốc và lãi tổng cộng là 924.230.000 đồng (Chín trăm hai mươi bốn triệu hai trăm ba mươi ngàn đồng), trong đó số tiền gốc là 849.000.000 đồng và số tiền lãi là 75.230.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị P phải chịu 39.726.900 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho nguyên đơn bà Lê Thị O 18.735.000 đồng tiền tạm ứng án phí (do bà Phạm Thị T nộp thay) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Đắk Lắk) theo biên lai thu số 0011148 ngày 13/6/2025.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND TP. BMT; - CCTHADS TP. BMT; - Các đương sự; - Lưu: HS+VP. | TM. HỘI ĐỒNG XẾT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Thanh |