- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Khưu Văn K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo hưu Văn phạm tội “Trộm c p tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G TỈNH KIÊN GIANG ----------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2025/HS-ST Ngày: 25 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Tr n Thị L
2. Bà Chung Kim Sang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Ngọc Tu n - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: ng Tr n V n Thi t - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Khƣu V n K, sinh ngày 18/06/2002. Tại T ạch iá, tỉnh iên iang; Nơi đăng ký thường trú và ch ở hi n nay: Số 186 đường M, khu phố 2, phường S, thành phố G, tỉnh iên iang; Nghề nghi p: Không; Trình độ văn hóa: không biết ch biết viết tên ; Dân tộc: inh; iới tính: Nam; Quốc tịch: Vi t Nam; Tôn giáo: hông; Con ông V Văn Đ và bà hưu Thị S; Chị ruột có 03 người, lớn nh t sinh năm 1999, nh nh t sinh năm 2010; V , con: Chưa có.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 01 tiền án.
Ngày 28/02/2024, bị Toà án nhân dân thành phố ạch iá, tỉnh kiên iang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm c p tài sản. Ngày 16/07/2024 ch p hành xong hình phạt, chưa xóa án tích.
Về nhân thân:
Ngày 21/01/2025 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G, tỉnh iên iang ra quyết định khởi tố bị can, ra L nh b t bị can để tạm giam về tội Trộm c p tài sản trong vụ án khác để điều tra.
Hi n tại bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi Công an thành phố G, tỉnh iên iang.
Bị cáo bị b t tạm giam từ ngày 21/01/2025 đến nay trong vụ án khác.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Huỳnh Tr n Linh Đ, sinh n m 1996 (V ng mặt)
Địa chỉ: Số 52/11 đường G, phường T, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
. ng L Nhựt T, sinh n m 2004 (Có đơn xin v ng mặt)
Địa chỉ: Số 306/5 đường T2, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
. ng Tr n Minh T3, sinh n m 2002 V ng mặt)
Địa chỉ: Số 62/3 đường K1, phường S, thành phố G, tỉnh iên iang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án đư c tóm t t như sau: Do không nghề nghi p, c n tiền tiêu xài. Đến khoảng 23 giờ 40 phút ngày 07/11/2024, K đi từ nhà bạn tên Tường về đến trước ti m bánh MIXUE ở số 50, đường Mai Thị Hồng Hạnh, phường Rạch S i của chị Huỳnh Tr n Linh Đ thì nhìn th y cửa ti m t t đèn, cửa ngoài khóa không có ai trông coi. K quan sát xung quanh khi nhìn th y không có người nên Khả dùng kìm và vít cậy phá khóa cửa và đi vào bên trong tìm kiếm tài sản. K nhìn th y hộc bàn tại qu y thu ngân nên K đi đến mở ra thì nhìn th y có nhiều tờ tiền Vi t Nam các m nh giá khác nhau nên K nhanh chóng l y trộm và tẩu thoát. Sau khi đã l y đư c tiền thì K kiểm tra lại thì biết số tiền K đã l y trộm đư c là 3.100.000 đồng. Sau đó, K tiêu xài cá nhân hết 350.000 đồng, cho Tr n Minh T3 100.000 đồng (K không nói cho T3 biết là tiền K trộm c p có đư c), còn lại số tiền 2.650.000 đồng K c t gi . Ngày 08/11/2024, anh Lý Nhựt T1 (quản lý ti m bánh) đến mở cửa ti m bánh thì phát hi n bị m t trộm tiền nên đến Công an phường Rạch S i trình báo. Sau đó, Công an tiến hành mời K về làm vi c thì K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp số tiền 3.000.000 đồng, Tường cũng giao nộp lại 100.000 đồng.
Đến ngày 20/11/2024, hưu Văn K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G khởi tố bị can, c m đi kh i nơi cư trú để điều tra (bút lục số 25; 27 đến 28; 29; 34; 55; 62; 64; 66; 67 đến 68; 69; 71 đến 74).
Bị cáo hưu Văn há đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.
Đại di n Vi n iểm sát gi quyền công tố tại phiên tòa vẫn gi nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo hưu Văn há đủ yếu tố c u thành tội “Trộm c p tài sản”.
* Vật chứng trong vụ án:
- Tiền Vi t Nam 2.650.000 đồng;
- Tiền Vi t Nam 350.000 đồng; (do bị can K giao nộp).
- Tiền Vi t Nam 100.000 đồng và 01 (một cây đèn pin dài 10cm, màu tr ng xanh, đã qua sử dụng (do Tr n Minh T3 giao nộp).
- 01 (một cái áo thun đen tay ng n, cổ tròn không có túi áo, trước ngực áo và sau lưng có in họa tiết nhiều màu s c, đã qua sử dụng;
- 01 (một) qu n Jean dài có màu xanh nước biển, phía trước qu n có rách cách đi u theo thiết kế;
- 01 đĩa DVD lưu tr 04 đoạn video ghi hình lại diễn biến vụ trộm tại địa chỉ số 50, đường Mai Thị Hồng Hạnh, phường Rạch S i đã đư c niêm phong kèm theo hồ sơ vụ án).
Đối với cây kìm và cây vít bị can K khai nhận lư m đư c dọc đường đi, sau khi dùng cậy khoá cửa để l y trộm tài sản xong thì bị can K đã ném b tại đoạn đường thuộc hẻm 103, đường Mai Thị Hồng Hạnh, phường Vĩnh L i. Công an phường đã tiến hành truy tìm nhưng không gặp (bút lục số 33).
Tại bản cáo trạng số: 83/CT-VKSRG, ngày 06 tháng 02 năm 2025, Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh iên iang đã truy tố bị cáo hưu Văn về tội “Trộm c p tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo phù h p với bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra Công an thành phố G và bản cáo trạng truy tố của Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
Tại phiên tòa, đại di n Vi n iểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh iên iang vẫn gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo hưu Văn phạm tội “Trộm c p tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điển h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo hưu Văn từ 09 (Ch n tháng đến 12 (Mư i hai) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đã trả cho bị hại số tiền 3.100.000 đồng a triệu một tr m n h n n . Theo Quyết định xử lý vật chứng số 4638, ngày 31/12/2024 của Cơ quan sát điều tra Công an thành phố G, đề nghị không xem xét.
Đề nghị: Tịch thu tiêu hu :
- 01 (một cây đèn pin dài 10cm, màu tr ng xanh, đã qua sử dụng (do Tr n Minh Tường giao nộp).
- 01 (một cái áo thun đen tay ng n, cổ tròn không có túi áo, trước ngực áo và sau lưng có in họa tiết nhiều màu s c, đã qua sử dụng;
- 01 (một) qu n Jean dài có màu xanh nước biển, phía trước qu n có rách cách đi u theo thiết kế;
Về trách nhi m dân sự: Bị hại Huỳnh Tr n Linh Đ đã nhận lại toàn bộ số tiền bị m t trộm và không yêu c u gì thêm nên đề nghị không xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xử mức án th p nh t.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như nh ng người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều h p pháp.
Về sự v ng mặt của người tham gia tố tụng: Người bị hại và người có quyền lơi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử v ng mặt nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra, vi c v ng mặt của họ không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Hội đồng xét xử xét th y, tại phiên toà hôm nay bị cáo hưu Văn đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù h p với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của nh ng người tham gia tố tụng và phù h p với các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hi n: Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 07/11/2024, tại nhà số 50 đường Mai Thị Hồng Hạnh, phường ạch S i, thành phố ạch iá, tỉnh iên iang, hưu Văn lén lút đột nhập vào nhà thực hi n hành vi l y trộm tài sản của bà Huỳnh Tr n Linh Đ tiền Vi t Nam 3.100.000 đồng a triệu một tr m n h n n .
Từ nh ng chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo hưu Văn phạm tội “Trộm c p tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố G là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Bị cáo tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, c n cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo tự nguy n nộp số tiền l y trộm nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo là người thành niên có đủ năng lực trách nhi m hình sự, bị cáo ý thức đư c vi c trộm c p tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo l i dụng sự sơ hở của bị hại b t ch p thực hi n hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo với l i cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở h u về tài sản của người khác đư c pháp luật thừa nhận và bảo v , làm ảnh hưởng x u đến cuộc sống gia đình bị hại, làm m t an ninh, trật tự ở địa phương và gây b t bình trong dư luận qu n chúng nhân dân. Qua xem xét, đánh giá tính ch t, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự; bị cáo là đối tư ng có nhân thân x u, bị cáo đã từng bị xử phạt tội Trộm c p tài sản (chưa đư c xóa án tích), bị cáo không l y đó làm bài học mà nay lại tiếp tục phạm tội, hành vi của bị cáo thể hi n sự xem thường pháp luật. Ngoài ra, bị cáo còn đang bị khởi tố tội trộm c p tài sản chưa đưa ra xét xử. Do đó, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử thống nh t xử phạt bị cáo mức án tương xứng bằng hình phạt tù có thời hạn, giam gi bị cáo trong thời gian nh t định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài li u, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đã cho th y bị cáo là người không có nghề nghi p và thu nhập, điều ki n kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố G, tỉnh iên iang đã trao trả vật chứng của vụ án là tài sản của bị hại Huỳnh Tr n Linh Đ tiền Vi t Nam 3.100.000 đồng a triệu một tr m n h n n . Xét th y, vi c xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra không ảnh hưởng đến vi c giải quyết vụ án, không có ai khiếu nại về vi c xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tịch thu tiêu hu : 01 (một cây đèn pin dài 10cm, màu tr ng xanh, đã qua sử dụng (do Tr n Minh T3 giao nộp); 01 (một cái áo thun đen tay ng n, cổ tròn không có túi áo, trước ngực áo và sau lưng có in họa tiết nhiều màu s c, đã qua sử dụng; 01 (một) qu n Jean dài có màu xanh nước biển, phía trước qu n có rách cách đi u theo thiết kế;
Về trách nhi m dân sự:
Bị hại Huỳnh Tr n Linh Đ đã nhận lại tài sản, không yêu c u gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của đại di n Vi n iểm sát nhân dân thành phố G đề nghị tại bản luận tội đối với bị cáo là phù h p nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo hưu Văn phạm tội “Trộm c p tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo hưu Văn mức án 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị b t tạm giam ngày 21/01/2025).
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hu : 01 (một cây đèn pin dài 10cm, màu tr ng xanh, đã qua sử dụng (do Tr n Minh T3 giao nộp); 01 (một cái áo thun đen tay ng n, cổ tròn không có túi áo, trước ngực áo và sau lưng có in họa tiết nhiều màu s c, đã qua sử dụng; 01 (một) qu n Jean dài có màu xanh nước biển, phía trước qu n có rách cách đi u theo thiết kế;
Theo quyết định chuyên giao vật chứng số 57/QĐ-V S ngày 06/02/2025 của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố ạch iá, tỉnh iên iang .
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Buộc bị cáo hưu Văn K phải chịu 200.000 đồng Hai tr m n h n ng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/02/2025). Bị hại và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan v ng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc đư c tống đạt h p l . * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát cùng cấp; - Cơ quan THA Dân sự Tp.G; - Công an thành phố G; - Bị cáo, n ư i TGTT; - Lưu h sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thùy Linh |