vanban.org

Bản án 56/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - An Giang , tỉnh An Giang Tuyên án 28/11/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Trí T 03 (ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam là ngày 07/8/2025. Áp dụng: Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Trí T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Trí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HS-ST
Ngày 28/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Danh Phạm Ngọc Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Ứng Cương.

2. Ông Nguyễn Duy Khương.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chí Thăng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Trí T (tên gọi khác: Gà Tre), sinh ngày 12 tháng 06 năm 1995 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: 179, Tổ 10, ấp THB, xã TH, tỉnh A; Chỗ ở hiện nay: 179, Tổ 10, ấp THB, xã TH, tỉnh A; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh V, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2025 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Tân Hiệp, tỉnh An Giang (bị cáo có mặt tại phiên toà).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Cẩm T, sinh năm 2004. Địa chỉ: ấp THB, xã TH, tỉnh A (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 07/8/2025, Lê Trí T mượn xe môtô hiệu SIRIUS màu đen, biển kiểm soát 68V6-3086 của người cháu bà con tên Nguyễn Cẩm T, cư trú tại ấp THB, xã TH, tỉnh A đi đến cầu Kinh C thuộc xã Thạnh An, thành phố CT để mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi T gặp một người phụ nữ tên Th (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 400.000đ ma túy, sau khi nhận tiền Th chỉ chỗ cho T lấy 02 đoạn ống nhựa có chứa ma túy được gói trong khăn giấy để dưới chân cầu. T lấy 02 đoạn ống nhựa bỏ vào trong vỏ gói thuốc lá hiệu HERO bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe chạy về khu dân cư thuộc ấp Đông Tiến, xã TH để tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an xã TH phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra, Lê Trí T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tại Kết luận giám định số 256/KL-KTHS ngày 13/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang kết luận như sau:

Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2948 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/ND-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.

* Về vật chứng thu giữ trong vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và nhập kho các vật chứng gồm:

- Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hoài Nam, người chứng kiến niêm phong Võ Văn Tuấn và các hình tròn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, gồm:

+ Mẫu vật ký hiệu M còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2660 gam, được niêm phong trong 01 bịch nylon và bao gói, vật đựng mẫu.

+ Một vỏ gói thuốc lá điếu, trên gói có ghi dòng chữ HERO.

- Một chiếc xe môtô có dàn áo bằng nhựa màu đen, có gắn tem "SIRIUS", không gương chiếu hậu hai bên; có gắn biển số 68V6-3086, không rõ số khung, số máy (đã qua sử dụng).

* Tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 27/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – An Giang đã truy tố bị cáo Lê Trí T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Trí T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; xử phạt bị cáo Lê Trí T từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng do bị cáo không có nghề nghiệp.

Về biện pháp tư pháp: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật ký hiệu M còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2660 gam, được niêm phong trong 01 bịch nylon và bao gói, vật đựng mẫu; Một vỏ gói thuốc lá điếu, trên gói có ghi dòng chữ HERO.

Xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Một chiếc xe môtô có dàn áo bằng nhựa màu đen, có gắn tem "SIRIUS", không gương chiếu hậu hai bên; có gắn biển số 68V6-3086, không rõ số khung, số máy, không có giấy tờ xe (đã qua sử dụng).

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – An Giang.

Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:

Vào khoảng hơn 09 giờ ngày 07/8/2025, Lê Trí T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 68V6-3086 đi đến cầu Kinh C thuộc xã Thạnh An, thành phố CT gặp một người phụ nữ tên “Th” mua 400.000đ ma túy về để sử dụng, khi T điều khiển xe môtô về khu dân cư thuộc ấp Đông Tiến, xã TH tìm chỗ để sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an xã Tân Hiệp phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên người bị cáo 0,2948 gam ma túy loại Methamphetamine. Đây là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025 thì:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm: ……

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;……”

Như vậy, có cơ sở kết luận cáo trạng Viện kiểm sát khu vực 3 – An Giang truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã trưởng thành, có đủ năng lực nhận thức rõ hậu quả của việc sử dụng ma túy không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cũng như kinh tế của bản thân bị cáo mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác nên pháp luật nghiêm cấm. Trong tình hình tội phạm về ma túy đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự như hiện nay thì hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm, để răn đe giáo dục nhằm ngăn chặn và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự. Do đó cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng do bị cáo không có nghề nghiệp.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

Về biện pháp tư pháp:

- Mẫu vật ký hiệu M còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2660 gam, được niêm phong trong 01 bịch nylon và bao gói, vật đựng mẫu.

- Một vỏ gói thuốc lá điếu, trên gói có ghi dòng chữ HERO.

Đây là vật chứng thu giữ trong vụ án và là vật cấm tàng trữ, vật không có giá trị sử dụng nên cần xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với một chiếc xe môtô có dàn áo bằng nhựa màu đen, có gắn tem "SIRIUS", không gương chiếu hậu hai bên; có gắn biển số 68V6-3086, không rõ số khung, số máy, không có giấy tờ xe, (đã qua sử dụng), do chị Nguyễn Cẩm T sử dụng nhưng không có giấy đăng ký xe và chị T cũng thống nhất không nhận lại xe, do đó cần xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Đối với người bán ma tuý cho bị cáo tên “Th” thì Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục làm rõ nhân thân lai lịch của người này, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Trí T 03 (ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam là ngày 07/8/2025.

Áp dụng: Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật ký hiệu M còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2660 gam, được niêm phong trong 01 bịch nylon và bao gói, vật đựng mẫu. Một vỏ gói thuốc lá điếu, trên gói có ghi dòng chữ HERO.

Xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: một chiếc xe môtô có dàn áo bằng nhựa màu đen, có gắn tem "SIRIUS", không gương chiếu hậu hai bên; có gắn biển số 68V6-3086, không rõ số khung, số máy, không có giấy tờ xe (đã qua sử dụng)

Vật chứng trên hiện Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – An Giang đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số: 09/QĐ-VKSKV3 ngày 27/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang (BL 114).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Lê Trí T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ