vanban.org

Bản án 56/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 14/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo NNM phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.

Áp dụng: - Khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: bị cáo NNM 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NNM phạm tội “Huỷ hoại tài sản”. - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo NNM phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH XUÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HS - ST
Ngày 14 tháng 03 năm 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân

Bà NTH

Bà CTT

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà NTAM– Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Ông BXH - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/HSST ngày 14/02/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST – HS ngày 27/02/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: NNM, Sinh ngày: 24/12/2005; Nơi thường trú: P613 Nhà A3a TT GV, P. GV, Q. BĐ, TP. Hà Nội; Nơi ở hiện tại: thuê trọ tại Căn hộ P2107-GS1 Vinhomes Smart City, P. TM, Q. NTL, TP. Hà Nội; trình độ văn hoá:12/2; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông NNQ – Sinh năm: 1979 và con bà NTL – Sinh năm: 1982; Gia đình 03 anh em, bị cáo là lớn nhất; vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Chị NTL, sinh năm 1982; HKTT: P613 Nhà A3a TT GV, phường GV, quận BĐ, thành phố Hà Nội; Nơi tạm trú: R1A 0309 Royal City, 72A NTL, phường TĐ, quận TX, thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh NNQ, sinh năm 1979; HKTT: P613 Nhà A3a TT GV, phường GV, quận BĐ, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: D01-3205 Toà BRG – số 25 LVL, NC, TX, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2003, chị NTL kết hôn với anh NNQ, cả hai có 03 con chung là NNM (SN: 2005), NĐA (SN: 2014) và NNDL (SN: 2015). Năm 2021, chị L và anh Q đã thuận tình ly hôn nhưng anh Q vẫn ở cùng chị L và các con tại căn hộ 1107 Tòa B6 GV, BĐ, Hà Nội. Tháng 02/2022, anh Q mua 02 chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu xanh (nhưng không giữ lại hóa đơn mua bán) và đưa cho chị L sử dụng 1 chiếc. Năm 2023, anh Q có quan hệ tình cảm và sinh sống với chị NTH nên chị L cùng ĐA, DL chuyển đến sinh sống tại căn hộ R1A0309 Royal City số 72A NTL, còn M thuê 01 căn hộ tại chung cư Vinhomes Smart City để ở một mình.

Khoảng 12h30 phút ngày 22/6/2024, anh Q, chị H và M đến chung cư R1A Royal City số 72A NTL với mục đích đón cháu DL đi chơi. Khi đến nơi, anh Q, chị H chờ dưới sảnh tầng 1 còn M đi lên đón DL. Khi M mở cửa vào thì thấy chị L cùng anh TVD (bạn chị L) và DL, ĐA. M hỏi DL “em có muốn đi chơi với bố không” nhưng DL không đồng ý. M đi xuống kể lại cho anh Q biết việc anh Duẩn đang ở trong căn hộ nên anh Q, chị H và M đi lên căn hộ R1A-0309 gọi cửa. Chị L mở cửa thì gặp anh Q và xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Lúc này, anh Q bảo DL đi chơi nhưng DL không muốn đi nên bỏ chạy dọc hành lang tầng 03 chung cư nên anh Q chạy đuổi theo bế nhưng DL phản ứng gay gắt. Lúc này, chị L đã sử dụng điện thoại Iphone 11 Pro Max quay clip anh Q đang bắt ép DL đi chơi. Đồng thời, chị L kẹp điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu xanh vào nách trái. Anh Q không đồng ý cho chị L quay nên anh đã dùng tay pH giật chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max nhưng do chị L giữ chặt nên hai bên giằng co chiếc điện thoại. Quá trình giằng co, chị L dùng chân đạp vào người anh Q thì chị H vào can ngăn. Lúc này, chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max bị rơi xuống sàn chung cư thì bất ngờ M lao vào nhặt chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max rồi giơ lên đập mạnh xuống sàn ba lần làm chiếc điện thoại bị vỡ nát, hư hỏng hoàn toàn. Lúc này, chị H vẫn dùng tay giữ vào tay pH chị L còn tay pH chị L đang giữ chiếc điện thoại Iphone 13 Promax đang kẹp ở nách thì bất ngờ anh Q dùng tay pH giật được chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max trên tay chị L. Thấy vậy, chị L giật tay chị H ra và nhiều lần yêu cầu anh Q trả lại nhưng anh Q kiên quyết không trả với lý do chiếc điện thoại là tài sản của anh Q. Sau đó, chị L chạy xuống sảnh tầng 1 chung cư gọi lễ tân và nhân viên an ninh đến can thiệp còn anh Q và chị H vào căn hộ R1A0309 để tìm DL. Khi chị L quay lại trước cửa căn hộ thì vẫn gặp anh Q, chị H nên tiếp tục đòi lại chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max nhưng anh Q vẫn không trả. Khoảng 14 giờ cùng ngày, công an phường TĐ đến mời những người liên quan về trụ sở để làm việc thì anh Q đưa chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max cho M để giao nộp cùng chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max cho cơ quan Công an.

Cơ quan công an tạm giữ 2 chiếc điện thoại gồm:

+ 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu vàng (số IMEI: 353902105663942, dung lượng 64GB - đã bị hư hỏng hoàn toàn)

+ 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu xanh (số Imei: 358612419693627, dung lượng 1,02TB)

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 147/KL-HĐĐGTS ngày 02/8/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Thanh Xuân kết luận:

- Giá trị thiệt hại (chi phí thay thế) của 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu vàng, số IMEI: 35 390210 566394 2, dung lượng 64GB (tài sản đã qua sử dụng và đã thu hồi) có giá trị 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).

- 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 35 861241 969 362 7, dung lượng 1,02TB (tài sản đã qua sử dụng và đã thu hồi) có giá trị 18.500.000 đồng (mười tám triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, NNM khai nhận đã nhiều lần chứng kiến cảnh bố, mẹ mâu thuẫn, cãi nhau, nên khi thấy sự việc mâu thuẫn giữa bố mẹ xảy ra ngày 22/6/2024, do không kìm chế được nên M đã đập chiếc điện thoại Iphone 11 pro max của chị L. Lời khai nhận của M phù hợp với các tài liệu điều tra đã thu thập.

Đối với anh NNQ tại Cơ quan điều tra anh Q khai nhận: Anh Q giật chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max là để chị L không quay được video khi không được sự đồng ý của anh Q. Quá trình giằng co, chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max rơi xuống sàn, M có hành vi đập vỡ nát điện thoại và anh Q không có phân công, bàn bạc đối với hành vi huỷ hoại của M. Đối với chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max màu xanh, anh Q trình bày là do anh mua vào năm 2022 và giao cho chị L sử dụng để bán hàng online. Quá trình xảy ra sự việc, anh Q không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực đối với chị L để chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max màu xanh. Sau khi giật được chiếc điện thoại, anh Q không rời khỏi hiện trường, không có ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại và khi cơ quan Công an đến, anh Q đã giao nộp cho cơ quan công an để giải quyết theo quy định của pháp luật. Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được, hành vi của anh Q không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với anh Q.

Đối với chị NTH, quá trình điều tra xác định hành vi của chị H khai không cấu thành tội phạm. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý.

Về dân sự: Chị NTL không có yêu cầu bồi thường dân sự.

Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 07/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố bị cáo NNM về tội “Huỷ hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận việc bị truy tố về tội “Huỷ hoại tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo đề nghị được bồi thường cho mẹ bị cáo chiếc điện thoại mới. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất được cải tạo tại địa phương.

Người bị hại chị L xác nhận bị cáo đã xin lỗi mẹ và nhận bồi thường của bị cáo M, không có yêu cầu bồi thường dân sự. Chị L đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt dưới mức đề xuất của Viện kiểm sát. Chị L đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung để truy tố NNQ, NTH về tội Cướp tài sản, tội Xâm phạm chỗ ở người khác và đồng phạm với NNM tội Huỷ hoại tài sản. Đề nghị Công an quận Thanh Xuân và Viện kiểm sát quận Thanh Xuân có văn bản trả lời về đơn tố giác của chị đối với h ành vi của anh Q chị H. Đề nghị xem xét điều tra viên có hành vi bỏ lọt tội phạm hay không.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Q xác nhận bị cáo M bị truy tố là đúng người đúng tội. Anh Q khẳng định hành vi của M là do bột phát, bản thân anh và chị H không biết M sẽ hành động như vậy. Anh và chị H, cháu M lên nhà chị L mục đích là để đón cháu DL, trước khi lên nhà anh có gọi điện báo cho Công an phường TĐ. Anh lấy điện thoại 13 promax từ tay chị L vì đó là điện thoại anh mua để chị L dùng chung bán hàng trên facebook. Anh sẽ làm đơn tố cáo chị L về tội Vu khống và tội làm nhục người khác.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo NNM từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Huỷ hoại tài sản”, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 178 BLHS. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: trả lại cho chị L:

- 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu vàng (số IMEI: 353902105663942, dung lượng 64GB - đã bị hư hỏng hoàn toàn

- 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu xanh (số Imei: 358612419693627, dung lượng 1,02TB)

Bị cáo pH chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tại phần tranh luận có ý kiến: Anh Q giật chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max là để chị L không quay được video. Quá trình giằng co, chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max rơi xuống sàn, M có hành vi đập vỡ nát điện thoại, đây là hành vi bột phát của M, bản thân anh Q và chị H không biết trước, cũng không có phân công, bàn bạc đối với hành vi huỷ hoại của M. Vì vậy anh Q chị H không đồng phạm với bị cáo M tội Huỷ hoại tài sản. Đối với chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max màu xanh, anh Q trình bày là do anh mua vào năm 2022 và giao cho chị L sử dụng để bán hàng online. Quá trình xảy ra sự việc, anh Q không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực đối với chị L để chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max màu xanh. Chị H giữ chị L mục đích để chị L không đánh anh. Sau khi giật được chiếc điện thoại, anh Q không rời khỏi hiện trường, không có ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại và khi cơ quan Công an đến, anh Q đã giao nộp cho cơ quan công an để giải quyết theo quy định của pháp luật. Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được, hành vi của anh Q, chị H không cấu thành tội Cướp tài sản. Anh Q, chị H vào nhà chị L khoảng 2-3 phút mục đích để bế cháu DL, vào nhà không làm gì khác nên không đủ yếu tố cấu thành tội Xâm phạm chỗ ở của người khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân trong quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo NNM đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận định giá và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 12h30’ ngày 22/6/2024, tại trước căn hộ R1A0309 chung cư Royal City số 72A NTL – phường TĐ – quận Thanh Xuân – TP. Hà Nội, NNM có hành vi huỷ hoại chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu vàng, dung lượng 64GB có giá trị 8.000.000 đồng của chị NTL là mẹ của bị cáo NNM. Hành vi của bị cáo NNM đủ yếu tố cấu thành tội “Huỷ hoại tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với hành vi của anh NNQ và chị NTH, Hội đồng xét xử thấy: Ngày 22/6/2024, anh Q và chị H, bị cáo M lên nhà chị L tại địa chỉ căn hộ R1A0309 chung cư Royal City số 72A NTL – phường TĐ – quận Thanh Xuân – TP. Hà Nội mục đích là để đón cháu DL, trước khi lên nhà chị L thì anh Q có gọi điện báo cho Công an phường TĐ. Anh Q không đồng ý cho chị L sử dụng điện thoại Iphone 11 Pro Max quay clip anh Q đang bắt ép DL đi chơi nên đã dùng tay pH giật chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max nhưng do chị L giữ chặt nên hai bên giằng co chiếc điện thoại, quá trình giằng co chị L dùng chân đạp vào người anh Q thì chị H vào can ngăn. Lúc này, chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max bị rơi xuống sàn chung cư thì bất ngờ M lao vào nhặt chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max rồi giơ lên đập mạnh xuống sàn ba lần làm chiếc điện thoại bị vỡ nát, hư hỏng hoàn toàn. Hành vi của bị cáo M là hành vi bột phát, bản thân anh Q và chị H cũng không biết trước và không phân công cho M thực hiện hành vi này nên anh Q và chị H không đồng phạm với bị cáo M tội Huỷ hoại tài sản. Anh Q lấy điện thoại 13 promax từ tay chị L vì nhận thức của anh Q đó là điện thoại của anh, quá trình xảy ra sự việc, anh Q không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực đối với chị L để chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max màu xanh. Chị H giữ chị L mục đích để chị L không đánh anh. Sau khi giật được chiếc điện thoại, anh Q không rời khỏi hiện trường, không có ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại và khi cơ quan Công an đến, anh Q đã giao nộp cho cơ quan công an để giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh Q, chị H vào nhà chị L khoảng 2-3 phút mục đích để bế cháu DL, vào nhà không làm gì khác. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân không truy tố anh NNQ và chị NTH về tội Cướp tài sản và tội Xâm phạm chỗ ở của người khác là có căn cứ.

Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy buộc bị cáo pH chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình để bị cáo nhận thức được sai phạm, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

.Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại chị L là mẹ bị cáo xác nhận bị cáo đã xin lỗi đã nhận bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất, đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng để giảm cho bị cáo một phần hình phạt và áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ đối với bị cáo M là phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: không.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 178 bộ luật hình sự.

Về khấu trừ thu nhập: theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự thì trong thời gian chấp hành án, người bị kết án bị khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ Nhà nước, xét bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại là chị L không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu vàng (số IMEI: 353902105663942, dung lượng 64GB - đã bị hư hỏng hoàn toàn tại phiên toà chị L đề nghị được nhận lại nên trả lại cho chị L.

- 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu xanh (số Imei: 358612419693627, dung lượng 1,02TB) tại phiên toà chị L đề nghị nhận lại, anh Q không đồng ý trả lại chị L đề nghị Toà án phân xử đây là điện thoại của anh trả lại anh. Hội đồng xét xử nhận thấy: tại thời điểm xảy ra sự việc chị L là người đang quản lý sử dụng chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, nay chị L đề nghị được nhận lại nên cần trả lại chị L. Anh Q và chị L có tranh chấp đây là điện thoại thuộc quyền sở hữu của ai thì dành quyền khởi kiện cho anh chị bằng vụ án dân sự khác.

. Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo NNM phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.

Áp dụng: - Khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;

- Điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.

Xử phạt: bị cáo NNM 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo NNM cho UBND phường GV, quận BĐ, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo NNM có trách nhiệm phối hợp với UBND phường GV, quận BĐ, Hà Nội trong việc giám sát giáo dục bị cáo M.

Bị cáo NNM pH thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo NNM.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo NNM.

Về xử lý vật chứng: Trả lại chị NTL:

- 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu vàng (số IMEI: 353902105663942, dung lượng 64GB - đã bị hư hỏng hoàn toàn

- 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu xanh (số Imei: 358612419693627, dung lượng 1,02TB)

Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/02/2025.

Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo NNM pH nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ