- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo L m T n T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng h nh sự và Nghị; Điều 174 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 56/2025/HS-ST Ngày: 28- 10 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh S
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Trung H
Ông Trần Quốc V
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vũ L, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10-Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10- Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Cao Trung T - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai rút kinh nghiệm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Lâm Tân T1, Sinh ngày 15 tháng 9 năm 1982, tại tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: Ấp Đại Thôn, xã Hưng Mỹ, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr nh độ h c vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; d n tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; con ông L m Ng c T2, sinh năm 1959 và bà Trần Thị T3, sinh năm 1960 (đã chết); vợ: L m Ng c H, sinh năm 1986 (đã ly hôn); con: 01 người, sinh năm 2010; tiền án: 02 trong đó: Ngày 20/01/2011, bị Toà án nh n d n thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 08/2011/HSST; Ngày 19/07/2014 bị Tòa án nh n d n thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xử phạt 03 năm tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 52/2014/HSST, chưa xóa án tích. Ngoài ra bị cáo còn 01 tiền án, vào ngày 18/02/2020 bị Tòa án nh n d n thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 03/2020/HSST, đã xóa án tích; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt để tạm giam từ ngày 28/6/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
1. Bị hại:
Thạch P. Sinh 1970
Nơi cư trú: Ấp G, xã C, tỉnh V
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Phạm Thị C. Sinh năm 1968
Nơi cư trú: ấp H, xã C, tỉnh V
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 11/4/2025, bị cáo L m T n T1, sinh ngày 15/9/1982, nơi cư trú: ấp Đ, xã H, tỉnh V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 67L2-7034 lưu thông trên quốc lộ 54 từ hướng phường Trà Vinh đến xã Trà Cú, khi đến đoạn thuộc ấp Giồng Trôm, xã Ch u Thành, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo T1 phát hiện một chiếc xe tự chế bằng sắt (loại xe cẩm lô) dựng cặp hàng rào nhà của ông Thạch P, sinh năm 1970, nơi cư trú: ấp G, xã C, tỉnh V nên bị cáo nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo điều khiển xe mô tô vào bên trong sân nhà để gặp ông P, bị cáo đưa ra thông tin gian dối hỏi mượn chiếc xe tự chế bằng sắt cùng một vĩ sắt có kích thước 0,5 mét x 1,5 mét để chở c y mai mà bị cáo vừa mua ở gần đó (thực tế bị cáo không có mua mai, không có chở mai), tin thật nên ông P đồng ý cho mượn xe và vĩ sắt. Sau đó, bị cáo nhờ ông P phụ khiên vĩ sắt để lên xe tự chế rồi bị cáo điều khiển xe mô tô kéo theo xe tự chế chạy trên tuyến Quốc lộ 54 về hướng xã Châu Thành để bán tại điểm thu mua phế liệu của bà Phạm Thị C, sinh năm 1968, nơi cư trú: ấp H, xã C, tỉnh V được số tiền 340.000 đồng (ba trăm bốn chục nghìn đồng). Sau khi cho bị cáo mượn xe ông P nghi ngờ nên vào nhà lấy xe mô tô chạy theo để t m hiểu bị cáo chở c y mai ở địa điểm nào, nhưng không thấy bị cáo ở đ u, sau đó không thấy bị cáo trả lại xe đến ngày 12/4/2025 ông P đến cơ quan Công an tr nh báo sự việc. Tại Cơ quan điều tra bị cáo thừa nhận hành vi của m nh và bị cáo đã chuộc lại tài sản chiếc xe tự chế bằng kim loại giao nộp cho Cơ quan điều tra, đối với vĩ sắt không thu hồi được. (Bút lục số 01; 03-05; 56-72; 83-106)
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 69/KL-ĐGTS ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng h nh sự huyện Ch u Thành, tỉnh Trà Vinh kết luận: 01 (một) xe tự chế bằng kim loại, có hai bánh bằng nhựa (loại xe cẩm lô), chiều dài 1,5 mét, chiều ngang 1 mét, được hàn lại với nhau, loại sắt vuông bên trong rỗng; 01 (một) vĩ sắt có kích thước 0,4 mét x 1,5 mét, nặng 15 kg (đã củ), trên vĩ sắt có nhiều lổ thủng, rĩ sét, có giá trị 1.997.500 đồng. (Bút lục số 126-129)
Qua xác minh nhân thân xác định bị cáo có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (trong đó tiền án năm 2011 và 2014 chưa xoá án tích, tiền án năm 2020 đã xoá án tích).
T nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự đối với bị cáo Lâm Tân T1: Không có.
T nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự đối với bị cáo Lâm Tân T1: Trong quá tr nh điều tra, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả.
Quá trình điều tra bị cáo L m T n T1 khai nhận ngoài thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nêu trên bị cáo còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn xã Lưu Nghiệp Anh, tỉnh Vĩnh Long và xe mô tô mà bị cáo làm phương tiện đi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản hiện tại Công an xã Lưu Nghiệp Anh đang tạm giữ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thông báo để phối hợp giải quyết vụ án h nh sự. Đối với vụ Trộm cắp tài sản tại xã Lưu Nghiệp Anh, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 12/4/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long đã ra Quyết định khởi tố vụ án h nh sự và khởi tố bị can để điều tra theo quy định pháp luật.
Đối với ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1977, nơi cư trú: ấp Thủ Sở, xã Phước Mỹ Trung, tỉnh Vĩnh Long là chủ xe mô tô biển kiểm soát 67L2-7034. Việc bị cáo Trạng sử dụng xe làm phương tiện để lừa đảo chiến đoạt tài sản th ông Tùng hoàn toàn không biết, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý.
Đối với Phạm Thị C, sinh năm 1968, nơi cư trú: ấp H, xã C, tỉnh V là người mua tài sản của bị cáo L m T n T1, tuy nhiên bà C không biết tài sản trên do bị cáo T1 lừa đảo mà có nên không xem xét xử lý.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe tự chế bằng kim loại, có hai bánh bằng nhựa (loại xe cẩm lô), chiều dài 1,5 mét, chiều ngang 1 mét, được hàn lại với nhau, loại sắt vuông bên trong rổng.
Trong quá tr nh điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là ông Thạch P 01 (một) xe tự chế bằng kim loại, có hai bánh bằng nhựa (loại xe cẩm lô), chiều dài 1,5 mét, chiều ngang 1 mét, được hàn lại với nhau, loại sắt vuông bên trong rỗng.
Về trách nhiệm d n sự: Ông Thạch P đã nhận lại tài sản là chiếc xe tự chế bằng kim loại. Riêng vĩ sắt ông Phong không yêu cầu bồi thường.
Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKS-HS ngày 10/10/2025 Viện kiểm sát nh n d n khu vực 10, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố L m T n T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nh n d n khu vực 10, tỉnh Vĩnh Long vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo L m T n T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như bản cáo trạng đã nêu. Sau khi ph n tích, đánh giá các t nh tiết, chứng cứ của vụ án và nh n th n của bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 174; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo L m Tân T1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và buộc bị cáo nộp án phí h nh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên. Viện kiểm sát nh n d n khu vực 10, tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr nh tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo L m T n T1 đã khai nhận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11/4/2025, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 67L2-7034 lưu thông đến khu vực ấp Giồng Trôm, xã Ch u Thành, tỉnh Vĩnh Long th phát hiện một chiếc xe tự chế bằng sắt (loại xe cẩm lô) của ông Thạch P để cặp hàng rào nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài, bị cáo liền đi vào nhà gặp ông P và đưa ra thông tin gian dối hỏi mượn chiếc xe trên để chở c y mai bị cáo vừa mua được, ông P tin thật nên cho bị cáo mượn chiếc xe cùng một vĩ sắt có kích thước 0,5m x 1,5m trị giá 1.997.500đ. Sau khi chiếm đoạt được tài sản bị cáo đem bán phế liệu cho bà Phạm Thị C được 340.000 đồng lấy tiền tiêu xài.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và tang vật chứng đã thu giữ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo L m T n T1 đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và h nh phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Như Viện kiểm sát nh n d n khu vực 10, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng h nh sự.
Xét thấy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nh n d n khu vực 10, tỉnh Vĩnh Long truy tố bị cáo L m T n T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật, không oan, không sai.
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm tr ng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, để có tiền tiêu xài bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối làm cho chủ tài sản tưởng giả là thật, tưởng kẻ gian là người ngay mà giao tài sản cho chúng để chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo không chỉ x m phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công d n mà còn x m phạm đến pháp luật h nh sự. Bản th n bị cáo đã 03 lần bị Tòa án xét xử về các tội “Lừa đảo và Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo đã thành thật khai báo và tự nguyện chuộc lại tài sản trã cho bị hại. Nghĩ nên xem đ y là những t nh tiết giảm nhẹ một phần h nh phạt cho bị cáo theo đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở.
Về trách nhiệm d n sự: Bị hại ông Thạch P đã nhận lại được tài sản nên không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị C khi mua tài sản của bị cáo không biết là do phạm tội mà có và tại phiên tòa bà cũng không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo L m T n T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 174; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo L m T n T1 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2025.
Về trách nhiệm d n sự: Bị hại ông Thạch P không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị C không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Căn cứ: Điều 136 Bộ luật tố tụng h nh sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lâm Tân T1 nộp 200.000 đồng án phí h nh sự sơ thẩm.
Án sơ thẩm xử công khai; báo cho bị cáo; bị hại biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long - VKSND khu vực 10; - Phòng THADS khu vực 10; - TTG số 03 CA tỉnh Vĩnh Long; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thanh S |