- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Ly xin ly hôn anh C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lâm Thị Sao L đối với anh Trần Văn C. Cho ly hôn giữa chị Lâm Thị Sao L và anh Trần Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10/9/2025 Về việc tranh chấp: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Tuyết Mai;
Ông Nguyễn Tường Bích.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Trọng là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lanh – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2025/TLST–HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2025/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Sao L, sinh năm 1998 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Chị L vắng mặt và có Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 21/7/2025.
Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn xin ly hôn đề ngày 22/4/2025, bản tự khai ngày 06/8/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lâm Thị Sao L trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị Sao L và anh Trần Văn C tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre vào năm 2016 (Nay là Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Vĩnh Long). Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 01/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung và anh chị đã ly thân từ tháng 01/2025 cho đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Nay, thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị L yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh C.
- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có 04 chung tên là Trần Tấn Đ, sinh năm 26/02/2014, Trần Ngọc Như Ý, sinh năm 29/12/2015, Trần Tấn L1, sinh năm 11/4/2015, Trần Tấn P, sinh năm 04/01/2023. Hiện tại, chị L đang nuôi cháu P, anh C nuôi cháu Đ, cháu Ý, cháu L1. Khi ly hôn, chị L có yêu cầu nuôi cháu P, chị L đồng ý để anh C được tiếp tục nuôi cháu Đ, cháu Ý, cháu L1 và không cấp dưỡng lẫn nhau.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long đã tống đạt hợp lệ cho anh Trần Văn C các văn bản tố tụng nhưng anh C vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án mặc dù anh vẫn còn sinh sống tại địa phương nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh Trần Văn C.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán có chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn chấp hành tốt, bị đơn vắng mặt không lý do là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lâm Thị Sao L đối với anh Trần Văn C.
- Về con chung: Giao con chung tên Trần Tấn P, sinh ngày 04/11/2023 cho chị Lâm Thị Sao L được nuôi dưỡng, giao con chung tên Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 29/12/2015, Trần Tấn L1, sinh ngày 11/4/2019, Trần Tấn Đ, sinh ngày 26/02/2014 cho anh Trần Văn C được nuôi dưỡng. Ghi nhận yêu cầu hai bên không cấp dưỡng lẫn nhau.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ly khai không có, nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Lâm Thị Sao L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Văn C. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Trần Văn C có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại ấp B, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (Nay là ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long). Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng anh C vẫn vắng mặt không có lý do. Chị Lâm Thị Sao L vắng mặt và có Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 21/7/2025. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh C cưới nhau vào năm 2016 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (Nay là Ủy ban xã B, tỉnh Vĩnh Long) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 22 tháng 11 năm 2016 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh C được công nhận hợp pháp.
Nay, chị L yêu cầu ly hôn anh C vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của chị L trong quá trình giải quyết vụ án, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh mâu thuẫn từ tháng 01/2024, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nên anh chị đã ly thân từ tháng 01/2025 cho đến nay, mỗi người đã có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai.
Toà án đã tiến hành mời chị L và anh C để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh C vẫn vắng mặt không lý do, điều đó cho thấy anh C đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này.
Vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa chị L và anh C đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó cũng chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nuôi con chung: Trong quá trình sống chung giữa chị L và anh C có 04 chung tên là Trần Tấn Đ, sinh năm 26/02/2014, Trần Ngọc Như Ý, sinh năm 29/12/2015, Trần Tấn L1, sinh năm 11/4/2015, Trần Tấn P, sinh năm 04/01/2023. Hiện nay, cháu P đang sống chung với chị L; cháu L1, cháu Đ, cháu Ý sống chung với anh Trần Văn C. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu P và đồng ý để anh C được tiếp tục nuôi cháu Đ, cháu L1, cháu Ý và hai bên không cấp dưỡng lẫn nhau.
Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi ly thân đến nay, anh C trực tiếp nuôi cháu Đ, cháu L1, cháu Ý; chị L trực tiếp nuôi cháu P và các con chung vẫn phát triển bình thường, các cháu được học tập đầy đủ. Do đó, nhằm để tránh thay đổi môi trường sống, bảo đảm ổn định tâm lý và tình cảm của con chung nên để anh C được tiếp tục nuôi cháu Đ, cháu L1, cháu Ý, còn chị L nuôi cháu P là phù hợp điều kiện, hoàn cảnh và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình
Về tài sản chung: Chị Ly khai không có, nên không xét đến.
Về nợ chung: Chị Ly khai không có, nên không xét đến.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí:
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lâm Thị Sao L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 14 Điều 3, các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238; khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lâm Thị Sao L đối với anh Trần Văn C. Cho ly hôn giữa chị Lâm Thị Sao L và anh Trần Văn C.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Lâm Thị Sao L và anh Trần Văn C theo Giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 22 tháng 11 năm 2016 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (Nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long) chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung:
Giao con chung Trần Tấn Đ, sinh năm 26/02/2014, Trần Ngọc Như Ý, sinh năm 29/12/2015, Trần Tấn L1, sinh năm 11/4/2015 cho anh Trần Văn C trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Trần Tấn P, sinh năm 04/01/2023 giao cho chị Lâm Thị Sao L trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện chị Lâm Thị Sao L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con lẫn nhau.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, đồng thời theo yêu cầu của chị L, anh C, Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con và thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị Lâm Thị S Ly khai không có nên không xét đến.
4. Về nợ chung: Chị Lâm Thị S Ly khai không có nên không xét đến.
5. Về án phí:
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lâm Thị Sao L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0011290 ngày 23 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Vĩnh Long). Vậy, chị Lâm Thị Sao L đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long (Phòng GĐKT,TT&THA); - VKSND khu vực 8 – Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long; - UBND xã Bình Đại, tỉnh Vĩnh Long; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Long Hồ |