vanban.org

Bản án 56/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phạm Văn K, cho anh Phạm Văn K được ly hôn chị Nguyễn Ngọc H.

Về con chung: Giao cháu Phạm Huyền T, sinh ngày 11/7/2017 cho chị Nguyễn Ngọc H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Phạm Văn K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Phạm Văn K khởi kiện ly hôn chị Nguyễn Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phạm Văn K, cho anh Phạm Văn K được ly hôn chị Nguyễn Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST
Ngày 14-8-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiển

Ông Thái Hoàng Bo

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau.

Ngày 14 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn K, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Ấp TK, xã SĐ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú: Ấp TT, xã ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Anh Phạm Văn K trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị H chung sống vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã PĐ, huyện TVT, tỉnh Cà Mau (nay thuộc xã SĐ, tỉnh Cà Mau), hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống, anh và chị H phát sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế dẫn đến thường xuyên cự cải, ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Anh yêu cầu ly hôn chị H.

Về con chung: Anh và chị H có một con chung là cháu Phạm Huyền T, sinh ngày 11/7/2017, đang sống cùng chị H. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu T cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, cấp dưỡng không đặt ra.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

Đối với chị Nguyễn Ngọc H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng đương sự vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến giải trình liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Văn K có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Nguyễn Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên là phù hợp.

Về hôn nhân: Anh K, chị H chung sống vào năm 2016, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Theo anh K xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế dẫn đến thường xuyên cự cải, anh chị ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Xét thấy, anh K, chị H mỗi người đã có cuộc sống riêng, không còn có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, chị H không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của anh K. Xét mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cho anh K được ly hôn chị H.

Về con chung: Cháu T sống chung chị H từ khi anh K, chị H ly thân đến nay và cháu là con gái nên giao cho chị H nuôi dưỡng sẽ giúp cháu phát triển tốt. Anh K đồng ý giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở giao cháu T cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không đặt ra cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh K xác định không có và các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh K phải chịu 300.000đ, đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phạm Văn K, cho anh Phạm Văn K được ly hôn chị Nguyễn Ngọc H.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Huyền T, sinh ngày 11/7/2017 cho chị Nguyễn Ngọc H tiếp tục nuôi dưỡng.

Anh Phạm Văn K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Phạm Văn K phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001312 ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, anh K đã nộp đủ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ