- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa nguyên đơn bà Đỗ Thị D và bị đơn ông Võ Ngọc T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Diệu đối V ông Võ Ngọc T về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-12-2025 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Xuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Độ;
Bà Phạm Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quế Trâm, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 19 –Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị D, sinh năm 1990; cư trú tại: số A, tổ B, khu phố A, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Võ Ngọc T, sinh năm 1982; cư trú tại: số nhà A, tổ B, ấp G, xã A, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 10 tháng 7 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đỗ Thị D trình bày:
Về hôn nhân: bà D và ông T tổ chức lễ cưới vào khoảng năm 2010-2011, đăng ký kết hôn ngày 01 tháng 8 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là xã A, Thành phố Hồ Chí Minh); hôn nhân tự nguyện. Sau khi cưới, vợ chồng sống cùng gia đình ông T tại xã T, huyện P; năm 2012 vợ chồng xây nhà trên đất của gia đình chồng ra ở riêng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do ông T không chăm lo cho gia đình, cờ bạc, vợ chồng không có tiếng nói chung. Bà D đã cố hàn gắn nhưng đến năm 2021 mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà D về nhà cha mẹ của bà ở, không còn sống chung với ông T khoảng 04 năm nay. Nay bà D nhận thấy hôn nhân của bà D và ông T không hạnh phúc nên bà D yêu cầu ly hôn với ông T.
Về nuôi con chung: bà D và ông T có một con chung tên Võ Ngọc Anh T1, sinh ngày 12 tháng 11 năm 2011. Bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu T1 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: bà D không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Võ Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt không lý do. Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án: quá trình giải quyết vụ án, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về tố tụng: bị đơn ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
Về yêu cầu của nguyên đơn:
Về hôn nhân: hôn nhân của bà D và ông T là hôn nhân hợp pháp. Bà D khai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018, nguyên nhân do ông T không chăm lo cho gia đình, cờ bạc, vợ chồng không có tiếng nói chung. Bà D và ông T đã không sống chung với nhau khoảng 04 năm nay. Vì vậy, bà D khởi kiện yêu cầu ly hôn ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Trên cơ sở lời khai của bà D cũng như nơi sinh sống hiện nay của bà D và ông T, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định, bà D và ông T là vợ chồng nhưng đã không sống chung với nhau trong thời gian dài, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau là đã không giữ gìn tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bỏ mặc không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến tại Tòa đối với yêu cầu ly hôn của bà D. Xét thấy hôn nhân của bà D và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà D và ông T ly hôn.
Về nuôi con chung: bà D và ông T có một con chung tên Võ Ngọc Anh T1, sinh ngày 12 tháng 11 năm 2011; bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu T1 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Xét thấy: cháu T1 hiện nay hơn 14 tuổi và đang sống cùng bà D; cháu T1 cũng có nguyện vọng sống với mẹ (bút lục 33). Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu T1, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D, ông T có trách nhiệm giao cháu T1 cho bà D trực tiếp nuôi theo quy định khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và giải quyết về cấp dưỡng khi có yêu cầu theo quy định tại Điều 84, Điều 107 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về chia tài sản và nợ chung: bà D và ông T không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp.
Về án phí: bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 84, Điều 107 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Diệu đối V ông Võ Ngọc T về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
Về hôn nhân: cho bà Đỗ Thị Diệu ly H với ông Võ Ngọc T.
Về nuôi con chung: ông Võ Ngọc T có trách nhiệm giao con chung tên Võ Ngọc Anh T1, sinh ngày 12 tháng 11 năm 2011 cho bà Đỗ Thị D trực tiếp nuôi. Bà Đỗ Thị D không yêu cầu ông Võ Ngọc T cấp dưỡng nuôi con.
Ông Võ Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và giải quyết về cấp dưỡng khi có yêu cầu.
Về chia tài sản và nợ chung: bà Đỗ Thị D và ông Võ Ngọc T không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: bà Đỗ Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006216 ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đỗ Thị D đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - UBND xã An Long, Thành phố Hồ Chí Minh; (Giấy CNKH số 49, quyển 01/2013, đăng ký ngày 01/8/2013 của UBND xã Tân Long, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cũ); - Đương sự; - Lưu: hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Xuyến |