vanban.org

Bản án 56/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn D được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thùy L. Về con chung: Ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị Thùy L có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 24/3/2002 (đã thành niên) và Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 13/12/2007. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn D - Phạm Thị Thùy L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07-01-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Đoàn

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tiến Dũng

2. Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh P - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1888/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 9966/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/11/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 10160/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/12/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1974 (có mặt)

Địa chỉ: số A G, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: số A G, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn D trình bày:

Ông D và bà Nguyễn Thị Thùy L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2001 có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 59 quyển số 1 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/10/2001. Từ năm 2010, bà L bỏ nhà đi, ông D đã tìm mọi cách để liên lạc với bà L nhưng không có kết quả.

Ông D đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà L mất tích. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã có quyết định số 2108/2024/QĐST-DS ngày 28/5/2024 tuyên bố bà L mất tích. Nay ông D xác định không còn tình cảm với bà L, nên yêu cầu được ly hôn.

Trong thời gian sống chung, ông D và bà L có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 24/3/2002 (đã thành niên) và Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 13/12/2007. Khi ly hôn ông D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con vì ông có thu nhập ổn định để nuôi con.

Về tài sản chung: ông D và bà L có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có

Ngoài ra ông D không có yêu cầu gì khác trong vụ án này.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không rõ lý do.

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, thời gian mở phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử và nguyên tắc xét xử. Về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay; bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy L cư trú tại phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Thùy L.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân:

Ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị Thùy L tìm hiểu, tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59 quyển số 1 cấp ngày 12/10/2001 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Đối với yêu cầu của ông D về việc ly hôn với bà L:

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, hai vợ chồng cần có sự yêu thương, quan tâm, cùng nhau chia sẻ, vun đắp gia đình. Tuy nhiên, theo ông D trình bày: Từ năm 2010, bà L bỏ nhà đi, ông D đã tìm mọi cách để liên lạc với bà L nhưng không có kết quả. Nay ông D xác định không còn tình cảm với bà L. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã có quyết định số 2108/2024/QĐST-DS ngày 28/5/2024 tuyên bố bà L mất tích.

Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến Tòa án nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không làm rõ được mâu thuẫn. Qua ý kiến trình bày của ông D, sự vắng mặt của bà L, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông D và bà L đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, ông D yêu cầu ly hôn bà L là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015.

. Về con chung:

Căn cứ Giấy khai sinh số 42, quyển số 1 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/4/2002 và Giấy khai sinh số 18, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 28/01/2008, có đủ cơ sở xác định ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị Thùy L có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 24/3/2002 (đã thành niên) và Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 13/12/2007.

Đối với yêu cầu giao con chung chưa thành niên cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng: Xét, việc quyết định giao con cho ai nuôi Hội đồng xét xử phải xem xét đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con. Ông D có yêu cầu giao con chung chưa thành niên cho ông trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Bà L đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án ông D khai con chung chưa thành niên Nguyễn Tấn Đ hiện đang do ông trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, trẻ có nguyện vọng được ở với ông D, nên yêu cầu giao con chung chưa thành niên cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở chấp nhận.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông D về việc không yêu cầu bà L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung và nợ chung:

Về tài sản chung: Ông D xác định có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Ông D xác định không có.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 40; Điều 147; Điều 186; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 19; Điều 51; khoản 2 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014);

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn D được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thùy L.

- Về con chung: Ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị Thùy L có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 24/3/2002 (đã thành niên) và Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 13/12/2007.

Giao con chung tên Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 13/12/2007 cho ông Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn D về việc không yêu cầu bà Nguyễn Thị Thùy L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

- Về tài sản chung: Ông Nguyễn Văn D xác định có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Ông Nguyễn Văn D xác định không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0043413 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Văn D đã nộp đủ tiền án phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Ông Nguyễn Văn D có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị Thùy L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ