- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Minh T - Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh BT"
- Tòa quyết gì? Luật Tố tụng hành chính; Điều 28, khoản 1 Điều 45, khoản 1 và khoản 4 Điều
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Đất đai; Điều 133 Luật Đất đai; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2025/HC-ST Ngày: 28 - 3 - 2025 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Trịnh
Ông Phan Đình Khiêm
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Khang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 215/2024/TLST-HC ngày 06 tháng 11
năm 2024, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HC ngày 13 tháng 3
năm 2025, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn PM, xã
HM, huyện HTN, tỉnh BT.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông T: Ông Trương Tấn H, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Khu phố 5, phường LĐ, thành phố P, tỉnh BT (Văn bản ủy quyền ngày
15/11/2024).
- Người bị kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh BT
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Công T1 – Giám đốc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Anh T2 – Giám đốc Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T2 – Giám đốc.
2. Uỷ ban nhân dân thành phố P
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Nguyễn Hoàng T3 – Chủ tịch.
3. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh BT
Người đại diện theo pháp luật: Ông Cao Sơn D – Giám đốc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Anh T2 – Giám đốc Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P.
4. Ông Cáp Văn S, sinh năm 1974
5. Bà Phạm Thị TH, sinh năm 1979
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Thảo: Ông Cáp Văn S, sinh năm 1974
(Văn bản ủy quyền ngày 25/11/2024).
Cùng địa chỉ: Tổ 6, thôn XP, xã PN, thành phố P, tỉnh BT.
Tại phiên tòa, có mặt ông Trương Tấn H, ông Cáp Văn S; những người
tham gia tố tụng còn lại vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông
Nguyễn Minh T và ông Trương Tấn H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 24/9/2024, ông Nguyễn Minh T và vợ chồng ông Cáp Văn S, bà
Phạm Thị TH ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 988, tờ bản đồ số 6, diện tích 593,3m2 (gồm 221,5m2 đất ở tại nông thôn và 371,8m2 đất trồng lúa), địa chỉ thửa đất tại thôn TH, xã TL, thành phố P, tỉnh BT, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 594... do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BT cấp ngày 08/01/2019.
Ngày 24/9/2024, ông T nộp hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất theo
biên nhận số 2024-17948/TNHS. Tuy nhiên, ngày 28/9/2024, ông T nhận được Thông báo số 1512/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 27/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Minh T. Trong đó, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P cho rằng: Trường hợp chuyển quyền sử dụng đất của ông T có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch, nên chưa có ý kiến chỉ đạo hướng dẫn giải quyết của cấp có thẩm quyền liên quan đến việc khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng.
Theo Thông báo nêu trên thì hồ sơ của ông T vẫn chưa được giải quyết và
không biết thời gian bao lâu thì được giải quyết. Điều này gây cản trở rất lớn đến việc an cư lập nghiệp của ông T và gia đình. Bởi lẽ, ông T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là để xây dựng nhà ở. Nay Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P nêu lý do chờ ý kiến chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền có liên quan, nhưng không có thời gian cụ thể, ảnh hưởng đến công việc của cá nhân gia đình ông T.
Vì vậy, ông Nguyễn Minh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy Thông báo số 1512/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 27/9/2024 của Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử
dụng đất của ông Nguyễn Minh T.
- Buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P và Văn phòng Đăng ký đất
đai tỉnh BT thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật trong việc
giải quyết hồ sơ đăng ký nhận chuyển quyền sử dụng đất của ông T.
Người bị kiện Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh BT có ý kiến tại Văn bản số
583/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 28/02/2025:
Đối với vụ khiếu kiện của ông Nguyễn Minh T, Chi nhánh Văn phòng
Đăng ký đất đai P đã có Văn bản số 1326/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày
27/02/2025 cung cấp ý kiến và toàn bộ hồ sơ tài liệu có liên quan cho Tòa án.
Văn phòng Đăng ký đất đai thống nhất ý kiến tại Văn bản số
1326/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 27/02/2025 và không có hồ sơ, tài liệu nào
khác để cung cấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P có ý kiến tại Văn bản số
1326/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 27/02/2025:
Ngày 24/9/2024, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P có tiếp nhận hồ
sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Minh T tại biên
nhận số 2024-17948/TNHS.
Ông Nguyễn Minh T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Cáp
Văn S và bà Phạm Thị TH đối với thửa đất số 988, tờ bản đồ số 6, diện tích
593,3m2 (gồm 221,5m2 đất ở tại nông thôn và 371,8m2 đất trồng lúa nước còn
lại), địa chỉ thửa đất tại thôn TH, xã TL, thành phố P , tỉnh BT theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
CP 594... do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BT cấp ngày 08/01/2019 cho hộ
ông Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông
Cáp Văn S ngày 23/01/2019.
Thửa đất số 988, tờ bản đồ số 6 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 594... có lịch sử biến
động như sau:
- Ngày 25/6/2018, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BT cấp Giấy chứng
nhận số CN 250… cho hộ ông Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1 đối với thửa đất
số 931, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.027,4m2 đất trồng lúa nước còn lại.
- Ngày 18/9/2018, Uỷ ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số
6949/QĐ-UBND về việc cho phép hộ ông Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1 được
chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn với diện tích 584m2. Sau
đó, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BT thực hiện cấp đổi thành các Giấy
chứng nhận số CO 749… và CO 749… cấp cùng ngày 17/10/2018.
- Hộ ông Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1 đăng ký biến động diện tích đối
với thửa đất số 988, tờ bản đồ số 6 của Giấy chứng nhận số CO 749… và được
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BT cấp đổi thành Giấy chứng nhận số CP
594... ngày 08/01/2019.
- Ngày 23/01/2019, Chi nhánh Văn phòng cập nhật biến động chuyển
nhượng cho ông Cáp Văn S.
Qua rà soát hồ sơ thì phần diện tích đất ở tại nông thôn của thửa đất số
988, tờ bản đồ số 6 có nguồn gốc do Uỷ ban nhân dân thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 6949/QĐ-UBND ngày 18/9/2018 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh BT.
Ngày 30/11/2023, Ủy ban nhân dân tỉnh BT ban hành Công văn số
4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Công văn số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023: “… 2. Giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở Tài nguyên và Môi trường”.
Căn cứ công văn nêu trên của Ủy ban nhân dân tỉnh BT, hiện nay Uỷ ban
nhân dân thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.
Chi nhánh Văn phòng hiện vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết
hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 27/9/2024, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 1512/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Minh T. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh Văn phòng thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Nguyễn Minh T được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.
2. Uỷ ban nhân dân thành phố P có ý kiến tại Văn bản số 2103/UBND-KT
ngày 27/3/2025:
Liên quan đến nội dung khởi kiện của ông Nguyễn Minh T được nêu tại
Thông báo số 215/2024/TLST-HC ngày 06/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận: Ngày 27/02/2025, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P có Văn bản số 1326/CNVPĐKĐĐPT-TTLT gửi Tòa án để cung cấp ý kiến theo Thông báo trên.
Qua nghiên cứu các hồ sơ đính kèm Văn bản số 1326/CNVPĐKĐPT-
TTLT ngày 27/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P và ý kiến tham mưu của Phòng Nông nghiệp và Môi trường tại Công văn số 1366/NN&MT ngày 25/3/2025, Uỷ ban nhân dân thành phố P có ý kiến như sau:
* Thửa đất số 988, tờ bản đồ số 6 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 594... có lịch sử
biến động như sau:
- Ngày 25/6/2018, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BT cấp Giấy chứng
nhận số CN 250… cho hộ ông Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1 đối với thửa đất
số 931, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.027,4m2 đất trồng lúa nước còn lại.
- Ngày 18/9/2018, Uỷ ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số
6949/QĐ-UBND về việc cho phép hộ ông Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1 được
chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn với diện tích 584,0m2. Sau
đó, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận thực hiện cấp đổi thành các
Giấy chứng nhận số CO 749… và CO 749… cấp cùng ngày 17/10/2018.
- Hộ ông Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1 đăng ký biến động diện tích đối
với thửa đất số 988, tờ bản đồ số 6 của Giấy chứng nhận số CO 749… và được
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BT cấp đổi thành Giấy chứng nhận số CP
594... ngày 08/01/2019.
- Ngày 23/01/2019, Chi nhánh Văn phòng cập nhật biến động chuyển
nhượng cho ông Cáp Văn S.
Ông Nguyễn Minh T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Cáp
Văn S và bà Phạm Thị TH đối với thửa đất số 988, tờ bản đồ số 6, diện tích
593,3m2 gồm 221,5m2 đất ở tại nông thôn và 371,8m2 đất trồng lúa nước còn lại,
địa chỉ thửa đất tại thôn TH, xã TL, thành phố P, tỉnh BT theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP
594... do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BT cấp ngày 08/01/2019 cho hộ ông
Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông
Cáp Văn S ngày 23/01/2019.
Qua rà soát hồ sơ thì phần diện tích đất ở tại nông thôn của thửa đất số
988, tờ bản đồ số 6 có nguồn gốc do Uỷ ban nhân dân thành phố P cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 6949/QĐ-UBND ngày
18/9/2018 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch
sử dụng đất đến năm 2020 theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013
của Ủy ban nhân dân tỉnh BT.
Tại Quyết định số 6949/QĐ-UBND ngày 18/9/2018 của UBND thành phố
P, thì trong phần cơ sở pháp lý căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được Ủy
ban nhân dân tỉnh BT phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày
13/12/2013 và Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của thành phố P đã được Ủy ban
nhân dân tỉnh BT phê duyệt tại Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 03/4/2018.
Căn cứ Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 200-2018 kèm theo tại Quyết
định số 6949/QĐ-UBND ngày 18/9/2018 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất
đai P lập ngày 29/8/2018 đối chiếu với các quy hoạch như sau:
- Căn cứ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5
năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được Ủy ban nhân dân tỉnh BT phê
duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất trồng lúa và đất cây lâu năm.
- Căn cứ Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của thành phố P đã được Ủy ban
nhân dân tỉnh BT phê duyệt tại Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 03/4/2018 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất trồng cây lâu năm.
Hiện nay, Uỷ ban nhân dân thành phố P chưa thu hồi và hủy Quyết định số
6949/QĐ-UBND ngày 18/9/2018 nêu trên.
Căn cứ Điều 52 Luật Đất đai năm 2013 thì việc Uỷ ban nhân dân thành
phố P cho phép ông Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1 chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa nước còn lại sang đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 6949/QĐ-UBND ngày 18/9/2018 thì không phù hợp với Quy hoạch sử dụng đất và Kế hoạch sử dụng đất được cấp thẩm quyền phê duyệt.
* Đối với nội dung mà ông Nguyễn Minh T khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy
Thông báo số 1512/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 27/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Minh T và buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P và Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh BT thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật thì không thuộc thẩm quyền của UBND thành phố P, vì Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P là đơn vị trực thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh BT - Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh BT.
3. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh BT: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa
án đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo luật định, nhưng Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bình Thuận không có ý kiến gì về vụ án.
4. Ông Cáp Văn S và bà Phạm Thị TH trình bày:
Thửa đất theo với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 594... do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BT cấp ngày 08/01/2019 cho ông bà Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1. Vào thời điểm tháng 01/2019, vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng từ ông Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1. Hồ sơ chuyển nhượng sang tên cho vợ chồng ông bà ngày 23/01/2019 và vợ chồng ông bà sử dụng thửa đất ổn định từ đó đến nay.
Ngày 24/9/2024, vợ chồng ông bà với ông Nguyễn Minh T ký hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 988, tờ bản đồ số 6, diện tích 593,3m2 (gồm 221,5m2 đất ở tại nông thôn và 371,8m2 đất trồng lúa), địa chỉ thửa đất tại thôn TH, xã TL, thành phố P, tỉnh BT, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 594... do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BT cấp ngày 08/01/2019 như trong đơn khởi kiện ông Nguyễn Minh T đã trình bày.
Ngày 24/9/2024, ông Nguyễn Minh T có nộp hồ sơ đăng ký chuyển quyền
sử dụng đất với biên nhận số 2024-17948/TNHS. Tuy nhiên, ngày 28/9/2024, ông Nguyễn Minh T nhận được Thông báo số 1512/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Minh T từ Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P. Trong đó, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký
đất đai P cho rằng: Trường hợp chuyển quyền sử dụng đất của ông bà có nguồn
gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch, nên chưa có
ý kiến chỉ đạo hướng dẫn giải quyết của cấp có thẩm quyền liên quan đến việc
khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, trật tự xây
dựng.
Theo Thông báo nêu trên thì hồ sơ của ông Nguyễn Minh T vẫn chưa được
giải quyết và không biết thời gian bao lâu thì được giải quyết. Điều này gây cản
trở rất lớn đến việc an cư lập nghiệp của ông Nguyễn Minh T.
Vợ chồng ông bà xin cam đoan nguồn gốc sử dụng đất tại hồ sơ nêu trên là
từ nhận chuyển nhượng mà có. Gia đình ông bà sử dụng ổn định từ đó đến nay
và không có tranh chấp với ai.
Giữa vợ chồng ông bà và ông Nguyễn Minh T cũng không tranh chấp gì
về việc chuyển nhượng thửa đất nêu trên.
Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh
T.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
1. Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của
2. Về nội dung: Căn cứ Điều 32, Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật
Tố tụng hành chính; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông Nguyễn Minh T:
- Hủy Thông báo số 1512/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 27/9/2024 của Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử
dụng đất của ông Nguyễn Minh T.
- Buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P, Văn phòng Đăng ký đất
đai tỉnh BT thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do yêu cầu của người khởi
kiện được chấp nhận nên buộc người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, vắng
mặt ông Nguyễn Minh T, bà Phạm Thị TH nhưng có mặt người đại diện theo ủy
quyền; vắng mặt người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh BT, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất
đai P, Uỷ ban nhân dân thành phố P và Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh BT,
nhưng đã có văn bản đề nghị xét xử vụ án vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiếp tục
xét xử vụ án như ý kiến đề nghị của những người tham gia tố tụng có mặt tại
phiên tòa và của Kiểm sát viên theo quy định tại khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.
Về quyền khởi kiện:
Ông Nguyễn Minh T là người nhận chuyển quyền sử dụng đất theo
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng công chứng Trương Văn Cương chứng nhận ngày 24/9/2024 đối với thửa đất số 988, tờ bản đồ số 6, diện tích 593,3m2 (gồm 221,5m2 đất ở tại nông thôn và 371,8m2 đất trồng lúa), địa chỉ thửa đất tại thôn TH, xã TL, thành phố P, tỉnh BT, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 594... do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BT cấp ngày 08/01/2019.
Ngày 24/9/2024, ông Nguyễn Minh T nộp hồ sơ đăng ký biến động
sang tên ông T. Đến ngày 27/9/2024, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P ban hành Văn bản số 1512/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Minh T.
Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên ông Nguyễn Minh
T đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T nên ông T có quyền khởi kiện đối với Văn bản số 1512/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 27/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P theo quy định tại khoản 1 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính.
Về thời hiệu khởi kiện: Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P ban
hành Văn bản số 1512/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 27/9/2024. Đến ngày 08/10/2024, ông Nguyễn Minh T nộp đơn khởi kiện là còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử nhận
thấy:
Về việc chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Thửa đất số 988, tờ bản đồ số 6, diện tích 593,3m2 (gồm 221,5m2 đất ở tại
nông thôn và 371,8m2 đất trồng lúa), tọa lạc tại thôn TH, xã TL, thành phố P, tỉnh BT, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 594... ngày 08/01/2019 cho hộ ông Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1, cập nhật chuyển nhượng cho ông Cáp Văn S ngày 23/01/2019. Do đó, vợ chồng ông Cáp Văn S đủ điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024.
Ông Nguyễn Minh T không thuộc trường hợp không được nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 28 Luật Đất đai năm 2024.
Vì vậy, việc chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ
vợ chồng ông Cáp Văn S, bà Phạm Thị TH cho ông Nguyễn Minh T là đảm bảo quy định của pháp luật.
Quyết định số 6949/QĐ-UBND ngày 18/9/2018 của Uỷ ban nhân dân
thành phố P cho phép hộ ông Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1 chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn với diện tích 584m2, đến thời điểm này không có văn bản nào của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kết luận việc cho
phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định này là không đúng quy định
của pháp luật và thu hồi, hủy bỏ Quyết định này.
Từ cơ sở trên, xét thấy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
vợ chồng ông Cáp Văn S, bà Phạm Thị TH và ông Nguyễn Minh T là đảm bảo
quy định của pháp luật và thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất
đai theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 131, Điều 133 Luật Đất đai năm
2024. Việc trả lại hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất
đai P tại Văn bản số 1512/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 27/9/2024, nhưng Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P lại không viện dẫn được căn cứ pháp lý nào.
Do vậy, ông Nguyễn Minh T yêu cầu hủy Văn bản số 1512/TB-CNVPĐKĐĐPT
ngày 27/9/2024 là hoàn toàn có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, như quan
điểm của Kiểm sát viên là phù hợp.
Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người
bị kiện Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh BT phải chịu án phí hành chính sơ thẩm
theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193
Luật Tố tụng hành chính; Điều 28, khoản 1 Điều 45, khoản 1 và khoản 4 Điều
131, Điều 133 Luật Đất đai năm 2024; Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T:
- Hủy Thông báo số 1512/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 27/9/2024 của Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử
dụng đất của ông Nguyễn Minh T;
- Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh BT, Chi nhánh Văn phòng Đăng
ký đất đai P thực hiện nhiệm vụ, công vụ thực hiện thủ tục đăng ký biến động
chuyển quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh T đối với thửa đất số 988, tờ
bản đồ số 6, tọa lạc tại thôn TH, xã TL, thành phố P , tỉnh BT, đã được Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh BT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 594... ngày 08/01/2019 cho
hộ ông Tô Văn B và bà Nguyễn Thị H1, cập nhật chuyển nhượng cho ông Cáp
Văn S ngày 23/01/2019 theo quy định của pháp luật và phù hợp với phần nhận
định của bản án liên quan đến yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
2.1 Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh BT phải chịu 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
2.2 Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Minh T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm theo Biên lai thu số 0000457 ngày
31/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt tại
phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/3/2025); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Nơi nhận:
| - Các đương sự; - VKSND tỉnh B.Thuận; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận.Thuận; - Lưu: hồ sơ, THC, Tổ HCTP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |