vanban.org

Bản án 56/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: - khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: - khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH K
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/DS-ST
Ngày 28/3/2025.
V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH K, THÀNH PHÓ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Hồng T

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị D

2. Bà Nguyễn Thị Hoàng O

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân quận

Ninh K, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh K tham gia phiên tòa: bà Lê Hoàng D – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh K tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 885/2024/TLST-DS ngày 26/12/2024 về "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, Sinh ngày 1983.

Đăng ký thường trú: tố X, khu vực X, phường Hưng P, quận Cái R, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Lê Chí V, sinh năm 1980.

Địa chỉ: 62A, đường Cách mạng tháng X, phường Cái K, quận Ninh K, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:

Ngày 25/01/2022 và ngày 04/4/2022 qua mối quan hệ quen biết bạn bè nên bà có cho ông Lê Chí V vay số tiền 100.000.000 đồng để mua đất. Cụ thể:

Lần thứ 1: ông V hỏi mượn tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Lần thứ 2: Ngày 04/4/2022 tiếp tục mượn tiền thêm 50.000.000đ ((Năm mươi

triệu đồng).

Bà H xác nhận thông qua 01 người bạn bà H lấy tiền của người đó để đưa tiền

cho ông V mượn 02 lần. Vậy tổng tiền mượn 2 lần là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

Đến ngày 16/07/2022 bà H có thông báo cho ông V là bạn cần tiền và thu lại số tiền 100.000.000 đồng ông V đã mượn, thì ông hẹn ngày trả, đến ngày trả ông lại tiếp tục hẹn tiếp tương tự như vậy nhiều lần, nhưng không trả. Đến tháng 3/2023, bà H có gởi đơn trình báo sự việc với Công an huyện Thới L và Công an thành phố Cần Thơ. Đến tháng 4/2023 bà nhận được thông báo của Cơ quan Công an huyện Thới L hẹn gặp bà H và ông Lê Chí V tại Công an huyện Thới L. Trong buổi gặp ông V có thừa nhận vay mượn tiền bà H 100.000.000 đồng (bằng chữ một trăm triệu đông) và trước lãnh đạo có hứa trả tiền cho bà H, Lãnh đạo Công an huyện có ghi lại biên bản ông V ký tên vào biên bản, nhưng đến nay vẫn chưa trả tiền cho bà H. Nhận thấy quyền và lợi ích của mình bị xâm hại, bà H khởi kiện, đề nghị Tòa án nhân dân quận Ninh K tuyên buộc ông Lê Chí V phải có trách nhiệm trả nợ cho bà Lê Thị H.

Ý kiến của bị đơn trình bày: Theo biên bản lấy khai vào ngày 26/02/2025 ông Lê Chí V thừa nhận có vay mượn bà H số tiền 100.000.000 đồng và đồng ý trả cho bà H số tiền trên. Nhưng hiện tại do ông đang chấp hành án hình sự không có điều kiện trả nợ sau khi chấp hành án về ông V sẽ đi làm trả dần số nợ cho bà H. Ông Lê Chí V xin Tòa án nhân dân quận Ninh K xem xét cho việc được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án do đang bị tạm giam không thể có có mặt theo sự triệu tập của Tòa theo tố tụng quy định.

Tại phiên tòà sơ thẩm: nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ông Lê Chí V và xin được vắng mặt tại phiên tòa.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh K:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 26 về thẩm quyền giải quyết vụ án, Điều 68 về tư cách tham gia tố tụng; từ Điều 93 đến Điều 97, Điều 195, Điều 196 Bộ luật TTDS về trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho VKS và đương sự. Vụ án chưa đảm bảo về thời hạn chuận bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng

Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đây đủ nghĩa vụ theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn yêu cầu giải quyêt văng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định Điều 227,228 BLTTDS 2015.

- Về nội dung giải quyết:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Lê Chí V phải trả số tiền nợ cho Bà Lê Thị H là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị H khởi kiện ông Lê Chí V yêu cầu trả số tiền đã cho vay nên xác định quan hệ pháp luật là "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản". Bị đơn có địa chỉ tại quận Ninh Kiêu nên Tòà án nhân dân quận Ninh Kiêu thụ lý giải quyết là đúng thâm quyên theo quy định tại khoản 3 Điêu 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn - Bà Lê Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn – ông Lê Chí V cũng có Đơn xin giải quyết vắng mặt. Do vậy các đương sự không có mặt thuộc các trường hợp đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Dựa vào biên nhận nợ của bị đơn Ông Lê Chí V ký vào ngày 25/01/2022 và biên bản lấy lời khai ông V đã xác định ông V có vay mượn 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) với bà Lê Thị H đồng thời việc ông V thừa nhận có vay khoản nợ trên với nguyên đơn, do ông đang chấp hành án và không có điều kiện trả nợ hiện tại nên ông V xin được trả dần số nợ sau khi chấp hành án về. Như vậy, xét thấy giao dịch dân sự của các đương sự là có thật; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Lê Chí V phải trả đủ số tiền còn nợ là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) cho bà Lê Thị H là có cơ sở, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ những nhận định nêu trên thì Tòa án nhân dân quận Ninh K chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Lê Thị H là phù hợp. Thời gian và cách thức thực hiện việc trả nợ sẽ được giải quyết tại cơ quan thi hành án.

Án phí dân sự sơ thâm: Do yêu câu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: - khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bị đơn - ông Lê Chí V phải trả cho bà Lê Thị H toàn bộ số tiền nợ còn thiếu là: 100.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng).

Thời gian và cách thức thực hiện việc trả nợ sẽ được giải quyết tại cơ quan thi hành án.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn chậm trả tiền thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thấm: ông Lê Chí V phải chịu tiền án phí là 5.000.000đồng (năm triệu đồng).

Nguyên đơn bà Lê Thị H được nhận lại tiền tạm ứng án phí là 2.500.000đồng theo biên lai thu số 0002131 ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh K, thành phố Cần Thơ.

3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa pH theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ