- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày: 27-9-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lương
Ông Nguyễn Hữu Nhị
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Chi – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T; Sinh ngày 16 tháng 4 năm 2002 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Nguyễn Xuân B (đã chết) và bà Hà Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: 02, cụ thể: Ngày 25/01/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2021/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/7/2021,chưa thi hành xong án phí, chưa được xóa án tích; Ngày 17/3/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2022/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/6/2024, chưa thi hành xong án phí, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/5/2020 bị Công an thành phố T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 199/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 750.000 đồng, đến ngày 06/5/2020 đã nộp đủ tiền phạt; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/7/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H – Có mặt
- Bị hại:
1. Anh Nguyễn Sỹ Đ; Sinh năm 1973; Nơi cư trú: Số nhà A, đường H, tổ dân phố F, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Kinh doanh – Vắng mặt
2. Anh Trương Khánh T1; Sinh năm 1981; Nơi cư trú: Số nhà F, ngõ F, đường Đ, tổ dân phố N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Viên chức – Vắng mặt
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Tá T2; Sinh năm 1965; Nơi cư trú: Số nhà F, đường M, tổ dân phố H, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Sửa chữa, mua bán xe đạp – Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 07/7/2024 đến ngày 17/7/2024, Nguyễn Văn T đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản lấy tiền để tiêu xài cá nhân, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào hồi 8 giờ 10 phút ngày 07/7/2024, Nguyễn Văn T đi bộ trên các tuyến đường trên địa bàn thành phố H nhằm mục đích tìm tài sản để lấy trộm. Khi Nguyễn Văn T đi đến trước nhà anh Nguyễn Sỹ Đ ở tổ dân phố F, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh thì thấy cổng nhà không khóa và có 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu CITY 250, màu đen của anh Đ đang dựng trong sân không có người trông giữ. T đi vào lấy trộm chiếc xe đạp trên rồi đạp xe đến Cửa hàng sữa chữa và mua bán xe đạp cũ tại số F, đường M thuộc phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh của ông Võ Tá T2 bán cho ông T2 với giá 300.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Vào hồi 9 giờ 25 phút ngày 17/7/2024, Nguyễn Văn T tiếp tục đi bộ trên các tuyến đường trên địa bàn thành phố H tìm tài sản để lấy trộm. Khi Nguyễn Văn T đi đến trước nhà anh Trương Khánh T1 ở tổ dân phố N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh thì thấy cổng nhà không khóa và có 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu LOUIS GARNEAU, màu trắng của anh T1 đang dựng trong sân không có người trông giữ. T đi vào lấy trộm chiếc xe đạp trên rồi đạp xe đến Cửa hàng sữa chữa và mua bán xe đạp cũ của ông Võ Tá T2 bán cho ông T2 với giá 300.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS, ngày 24/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND thành phố H kết luận: 01 chiếc xe đạp thể thao, nhãn hiệu CITY 250, màu đen, xe cũ đã qua sử dụng vào thời điểm tháng 7/2024 có trị giá 2.700.000 đồng và 01 chiếc xe đạp thể thao, nhãn hiệu LOUIS GARNEAU, màu trắng, xe cũ đã qua sử dụng vào thời điểm tháng 7/2024 có trị giá 2.800.000 đồng.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu CITY 250 màu đen; 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu LOUIS GARNEAU màu trắng và trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Sỹ Đ và anh Trương Khánh T1.
Về dân sự: Sau khi nhận lại 02 chiếc xe đạp, anh Nguyễn Sỹ Đ và anh Trương Khánh T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm. Ông Võ Tá T2 không yêu cầu T bồi thường thiệt hại.
Bản cáo trạng số 56/CT-VKS-TPHT ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn Trung về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn T từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 25/7/2024; Về hình phạt bổ sụng: Không; Về biện pháp tư pháp: Truy thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 600.000 đồng tại bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 07/7/2024 đến ngày 17/7/2024, trên địa bàn thành phố H, Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu CITY 250 màu đen trị giá 2.700.000 đồng của anh Nguyễn Sỹ Đ và 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu LOUIS GARNEAU màu trắng trị giá 2.800.000 đồng của anh Trương Khánh T1 sau đó bán cho ông Võ Tá T2 với giá 600.000 tiêu xài cá nhân hết. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 5.500.000 đồng. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo thực hiện 2 lần trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răng đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, hiện đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu CITY 250 màu đen; 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu LOUIS GARNEAU màu trắng và trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Sỹ Đ và anh Trương Khánh T1 là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, bị hại anh Nguyễn Sỹ Đ và anh Trương Khánh T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét. Ông Võ Tá T2 sau khi giao nộp 02 chiếc xe đạp cho Cơ quan điều tra không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 600.000 đồng tiền mua xe; Tại phiên tòa, mặc dù Hội đồng xét xử đã giải thích cho ông T2 về quyền được yêu cầu bị cáo bồi thường nhưng ông T2 trình bày thấy bị cáo hoàn cảnh khó khăn nên ông T2 cho bị cáo số tiền trên; Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này ông T2 có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là phù hợp. Về biện pháp tư pháp, đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy thu số tiền 600.000 đồng tại bị cáo là chưa phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 194 Bộ luật Dân sự và hướng dẫn tại Văn bản số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân tối cao nên không chấp nhận.
Đối với ông Võ Tá T2 đã mua 02 chiếc xe đạp trên nhưng ông T2 không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý đối với ông T2 là phù hợp.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt Nguyễn Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 25/7/2024.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ. (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp Hà Tĩnh; - VKSND TP Hà Tĩnh; - THADS TP Hà Tĩnh; - Trại tạm giam; - Bị cáo; Bị hại, NLQ; - Công an TP Hà Tĩnh; - THAPT; - Lưu: HS, VP. Các Hội thẩm nhân dân Nguyễn Văn Lƣơng Nguyễn Hữu Nhị | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thanh Huyền HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thanh Huyền |