vanban.org

Bản án 56/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 25/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Thanh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lâm Thanh T. Xử phạt: Bị cáo Lâm Thanh T 03 năm tù giam.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm Thanh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN W
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST
Ngày 25 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN W, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Cơ.

2. Bà Đào Đắc Cẩm Tú.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Bưởi – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Lâm Thanh T, sinh ngày 09/09/1988; nơi sinh: Huyện E, tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Ấp Q, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Tài xế xe cuốc; trình độ học vấn: Lớp 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lâm Văn H (Chết) và bà Tăng Thị N, sinh năm 1967; bị cáo có vợ là bà Lý Thị Mỹ P, sinh năm1988 và có 02 người con, người lớn nhất sinh năm 2014 và người nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: 01 (một) tiền án về “Tội cố ý gây thương tích” bị Tòa án nhân dân huyện W tuyên phạt 01 năm tù giam theo Bản án số 36/2021/HSST ngày 13/7/2021. Bị can chấp hành xong án phạt tù ngày 27/9/2022 (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không. Tuy nhiên bị can từng có 02 tiền sự đã chấp hành xong, đủ thời gian được xem là không có vi phạm hành chính gồm: Ngày 02/3/2007 bị Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng ra quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục Cồn Cát về hành vi trộm cắp tài sản và gây rối trật tự công cộng trong thời gian 24 tháng, đến ngày 30/10/2008 chấp hành xong quyết định; Ngày 29/9/2009 bị Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng có quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục Cồn Cát về hành vi gây rối trật tự công cộng thời gian 24 tháng, đến ngày 30/5/2011 chấp hành xong quyết định; nhân thân: Xấu. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (Bị cáo có mặt)

* Bị hại: Ông Lê Mạnh H1, sinh năm 1971 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp Q, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lưu Thị Lệ H2, sinh năm 1970

Địa chỉ: Ấp Q, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng.

* Người làm chứng:

1. Ông Lưu Lê Hoàng S, sinh năm 1988 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp R, xã Y, huyện U, tỉnh Sóc Trăng

Chỗ ở hiện nay: Ấp Q, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng

2. Bà Bùi Thị Th, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp R, xã Y, huyện U, tỉnh Sóc Trăng

Chỗ ở hiện nay: Số 214/30, ấp Q, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng

3. Bà Tăng Thị N, sinh năm 1967 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp Q, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 18/12/2023, Lâm Thanh T sau khi đi uống rượu bia xong thì trở về nhà mình. Về nhà được một lúc thì do nhớ lại chuyện trước đó cây xanh của nhà bà Lưu Thị Lệ H2 là hàng xóm của Lâm Thanh T rụng lá qua phần đất của nhà Lâm Thanh T nên Lâm Thanh T đi qua đứng phía ngoài cổng nhà của bà Lưu Thị Lệ H2 chửi vào nhà được một lúc nhưng không thấy ai đi ra nên Lâm Thanh T bỏ đi về nhà ngủ.

Đến sáng hôm sau, lúc khoảng 06 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, bà Lưu Thị Lệ H2 một mình đi qua nhà của Lâm Thanh T để nói chuyện tối hôm qua Lâm Thanh T qua nhà chửi bà Lưu Thị Lệ H2 thì gặp được bà Tăng Thị N là mẹ ruột của Lâm Thanh T, còn Lâm Thanh T thì đang nằm ngủ trong nhà. Nghe tiếng bà Lưu Thị Lệ H2 nên Lâm Thanh T đi ra đứng trước nhà và hai bên bắt đầu xảy ra cự cãi. Trong lúc cự cãi thì Lâm Thanh T dùng tay xô và dùng chân đạp trúng vào vùng bụng của bà Lưu Thị Lệ H2 làm cho bà Lưu Thị Lệ H2 té ngã xuống sân gần đó, khi đó bà Lưu Thị Lệ H2 la lên thì có ông Lê Mạnh H1 là chồng bà Lưu Thị Lệ H2 chạy qua can ngăn và kéo bà Lưu Thị Lệ H2 về nhà. Khi ông Lê Mạnh H1 chạy qua thì Lâm Thanh T lấy 01 (một) khúc cây (loại cây đố vuông dài 135cm) mà Lâm Thanh T dùng để gài cửa tại nhà của Lâm Thanh T đi ra cầm hai tay đánh trúng vào tay phải và vùng sườn phải của ông Lê Mạnh H1 gây thương tích. Do bị đánh nên ông Lê Mạnh H1 chụp lấy khúc cây trên tay Lâm Thanh T rồi ném bỏ gần đó. Cùng lúc này có ông Lê Lưu Hoàng Sơn và bà Bùi Thị Th là con trai và con dâu của ông Lê Mạnh H1 chạy qua nhìn thấy Lâm Thanh T đánh ông Lê Mạnh H1 và bà Lưu Thị Lệ H2 nên ông Lê Lưu Hoàng Sơn có dùng tay đánh trúng vào mặt Lâm Thanh T 01 (một) cái làm cho Lâm Thanh T té ngã. Lúc này Lâm Thanh T nhặt 01 (một) cục đá (loại đá 4x6) ở gần đó định chọi vào ông Lê Lưu Hoàng Sơn nhưng bị ông Lê Lưu Hoàng Sơn giật cục đá trên tay Lâm Thanh T rồi ném bỏ gần đó và tiếp tục dùng tay đánh trúng vào vùng mặt của Lâm Thanh T khoảng 02-03 cái thì được mọi người can ngăn rồi cả hai bên tự bỏ đi về nhà.

Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 118/KLTTCT-TTPYST ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Sóc Trăng, kết luận đối với thương tích của bị hại Lê Mạnh H1 như sau:

“1. Các kết quả chính:

- Tổn thương gãy đầu dưới xương quay bên phải, hạn chế ít vận động.

- Vết đỏ da, đau lói vùng lưng phải không còn di chứng tổn thương. Không xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Lê Mạnh H1 tại thời điểm giám định là: 13% (Mười ba phần trăm).

- Kết luận khác: Tổn thương gãy đầu dưới xương quay bên phải có đặc điểm do vật tày gây nên. Tổn thương không phải là vùng nguy hiểm đến tính mạng.”

Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 119/KLTTCT-TTPYST ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Sóc Trăng, kết luận đối với thương tích của bị hại Lưu Thị Lệ H2 như sau:

“1. Các kết quả chính:

Vết thương bầm vùng trán, bàn tay phải không còn di chứng tổn thương. Không xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Lưu Thị Lệ H2 tại thời điểm giám định là: 00% (Không phần trăm).

- Kết luận khác: Vết sưng bầm vùng trán, bàn tay phải theo giấy chứng nhận thương tích ghi nhận có đặc điểm do vật tày gây nên. Không còn di chứng tổn thương nên không nguy hiểm đến tính mạng.”

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện W đã tiến hành thu giữ: 01 (một) khúc cây (loại cây đố vuông) dài 135 cm, màu nâu hai đầu cây bị khuyết và 01 (một) cục đá (loại đá 4x6 cm) có nhiều góc cạnh.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Mạnh H1 yêu cầu Lâm Thanh T bồi thường trách nhiệm dân sự các khoản gồm: tiền chi phí điều trị, tiền xe đi lại, tiền ăn uống, tiền thu nhập bị mất do không lao động tổng cộng là: 26.532.056 đồng; đối với người liên quan bà Lưu Thị Lệ H2 yêu cầu Lâm Thanh T bồi thường tiền chi phí khám, điều trị là 2.006.227 đồng, đến nay phía Lâm Thanh T chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSMX ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện W đã truy tố bị cáo Lâm Thanh T về tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng 47/CT-VKSMX ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lâm Thanh T từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 01 (một) khúc cây (loại cây đố vuông) dài 135 cm, màu nâu hai đầu cây bị khuyết và 01 (một) cục đá (loại đá 4x6 cm) có nhiều góc cạnh.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lâm Thanh T bồi thường cho ông Lê Mạnh H1 số tiền 26.532.056 đồng bao gồm tiền chi phí điều trị, tiền xe đi lại, tiền ăn uống, tiền thu nhập bị mất do không lao động. Buộc bị cáo Lâm Thanh T bồi thường cho bà Lưu Thị Lệ H2 số tiền chi phí khám, điều trị là 2.006.227 đồng.

- Bị cáo Lâm Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

* Bị hại Lê Mạnh H1 có ý kiến tranh luận với phát biểu luận tội của Kiểm sát viên; đề nghị xử phạt nghiêm và đúng pháp luật; về trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 26.532.056 đồng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến tranh luận, đề nghị xử phạt nghiêm và đúng pháp luật; về trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.006.227 đồng.

* Bị cáo Lâm Thanh T không có ý kiến tranh luận; lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định vụ án:

[I] Về tố tụng:

[1] Tại phiên tòa, người làm chứng bà Bùi Thị Th vắng mặt, nhưng đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra, việc vắng mặt cũng không ảnh hưởng hoặc gây trở ngại đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

[2] Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành các hoạt động Điều tra, Truy tố đúng thẩm quyền, đúng theo trình tự thủ tục và quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Tại phiên toà, bị cáo Lâm Thanh T xác nhận trong quá trình tố tụng các cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện đúng theo quy định, nên bị cáo không có ý kiến, khiếu nại. Do vậy, các hoạt động Điều tra, Truy tố của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp và đúng luật định.

[II] Về nội dung:

[1] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lâm Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố; xác nhận các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm là tự nguyện, đúng với hành vi khách quan mà bị cáo đã thực hiện trong vụ án. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng quy định pháp luật, không oan sai.

[2] Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, tại ấp Q, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng, trong lúc cự cãi do mâu thuẫn trước đó giữa Lâm Thanh T và bà Lưu Thị Lệ H2 nên Lâm Thanh T đã có hành vi tay xô và đạp trúng vào người bà Lưu Thị Lệ H2 dẫn đến bà Lưu Thị Lệ H2 bị té ngã bị thương tích qua giám định có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0%. Sau đó, ông Lê Mạnh H1 đi qua can ngăn thì bị Lâm Thanh T dùng 01 (một) khúc cây (loại cây đố vuông) dài 135 cm là hung khí nguy hiểm đánh trúng vào sườn hông bên phải của ông Lê Mạnh H1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể qua giám định là 13% (mười ba phần trăm).

[3] Bị cáo Lâm Thanh T là người có có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được sức khỏe của con người là vốn quí, không gì so sánh được là bất khả xâm phạm, là khách thể được luật hình bảo vệ, người nào xâm hại là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị. Bị cáo Lâm Thanh T nhận thức được điều này nhưng với bản chất xem thường pháp luật, không tôn trọng sức khỏe của người khác nên đã có hành vi dùng 01 (một) khúc cây (loại cây đố vuông) dài 135 cm là hung khí nguy hiểm đánh trúng vào sườn hông bên phải của ông Lê Mạnh H1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể qua giám định là 13%. Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yêu tố cấu thành cơ bản về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nên có tội và phải chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Hung khí bị cáo Lâm Thanh T dùng gây thương tích cho bị hại Lê Mạnh H1 là 01 (một) khúc cây (loại cây đố vuông) dài 135 cm đây là loại “hung khí nguy hiểm” nên hành vi phạm tội của bị cáo đối với bị hại Lê Mạnh H1 thuộc tình tiết định khung tăng nặng nên phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 47/CT-VKSMX ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Lâm Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Xét thấy, bị cáo Lâm Thanh T thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của bị hại một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn và bất bình trong nhân dân nên đối với bị cáo cần phải xử phạt nghiêm. Đồng thời, loại tội phạm này đang có chiều hướng tăng, nhằm răng đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội, đối với bị cáo cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, bị cáo phải chịu sự quản lý, giáo dục trực tiếp của cơ quan pháp luật, để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho xã.

[6] Tuy nhiên, trong lượng hình Hội đồng xét xử cũng lưu tâm xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng chính sách khoan hồng để có phần ân giảm đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân xấu bị cáo từng có 02 tiền sự đã chấp hành xong, đủ thời gian được xem là không có vi phạm hành chính gồm: Ngày 02/3/2007 bị Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng ra quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục Cồn Cát về hành vi trộm cắp tài sản và gây rối trật tự công cộng trong thời gian 24 tháng, đến ngày 30/10/2008 chấp hành xong quyết định; Ngày 29/9/2009 bị Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng có quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục Cồn Cát về hành vi gây rối trật tự công cộng thời gian 24 tháng, đến ngày 30/5/2011 chấp hành xong quyết định và 01 (một) tiền án về “Tội cố ý gây thương tích” bị Tòa án nhân dân huyện W tuyên phạt 01 năm tù giam theo Bản án số 36/2021/HSST ngày 13/7/2021. Bị can chấp hành xong án phạt tù ngày 27/9/2022 (chưa được xóa án tích) nhưng lại tiếp tục thực hiện thành vi phạm tội với lỗi cố ý gây thương tích cho ông Lê Mạnh H1 nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Xét thấy, trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc khmer với trình độ học vấn thấp (không biết chữ) nên đây là các tình tiết trên thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ; trong lương hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt cho bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Mạnh H1 yêu cầu bị cáo Lâm Thanh T bồi thường chi phí điều trị, tiền xe đi lại, tiền ăn uống, tiền thu nhập bị mất do không lao động, tổng số tiền yêu cầu là 26.532.056 đồng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị Lệ H2 yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí khám và điều trị là 2.006.227 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) khúc cây (loại cây đố vuông) dài 135 cm, màu nâu hai đầu cây bị khuyết và 01 (một) cục đá (loại đá 4x6 cm) có nhiều góc cạnh là công cụ dùng vào việc phạm tội. Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lâm Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 1.426.914 đồng.

[11] Đối với việc bị cáo Lâm Thanh T dùng tay xô và dùng chân đạp làm bà Lưu Thị Lệ H2 té ngã bị bầm vùng trán, bàn tay phải do không để lại di chứng, qua giám định xác định có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 00% nên Cơ quan điều tra không đặt ra xem xét xử lý về hình sự đối với bị cáo Lâm Thanh T là có căn cứ.

[12] Đối với thương tích của bị cáo Lâm Thanh T: Bị cáo cho rằng trong lúc vụ việc xảy ra thì bị cáo bị ông Lê Lưu Hoàng Sơn dùng cục đá (loại đá 4x6) đánh trúng nhiều cái vào vùng mặt của bị cáo. Tuy nhiên trên cơ sở kết quả điều tra, nhận thấy bị cáo bị ông Lê Lưu Hoàng Sơn đánh không để lại thương tích, bị cáo cũng không có đi điều trị và không có căn cứ nào khác xác định ông Lê Lưu Hoàng Sơn có dùng đá 4x6 đánh vào mặt bị cáo, đồng thời bị cáo cũng không có yêu cầu xử lý đối với việc mình bị đánh nên Cơ quan điều tra không đặt ra xem xét là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lâm Thanh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

2. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lâm Thanh T.

- Xử phạt: Bị cáo Lâm Thanh T 03 năm tù giam.

- Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo tự nguyên đi chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lâm Thanh T bồi thường cho ông Lê Mạnh H1 số tiền 26.532.056 đồng bao gồm tiền chi phí điều trị, tiền xe đi lại, tiền ăn uống, tiền thu nhập bị mất do không lao động. Buộc bị cáo Lâm Thanh T bồi thường cho bà Lưu Thị Lệ H2 số tiền chi phí khám, điều trị là 2.006.227 đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại Lê Mạnh H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị Lệ H2 có đơn yêu cầu thi hành án thì bị cáo Lâm Thanh T phải giao trả đủ cho bị hại Lê Mạnh H1 số tiền là 26.532.056 đồng và giao trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị Lệ H2 số tiền 2.006.227 đồng theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Nếu bị cáo Lâm Thanh T không thực hiện thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 01 (một) khúc cây (loại cây đố vuông) dài 135 cm, màu nâu hai đầu cây bị khuyết và 01 (một) cục đá (loại đá 4x6 cm) có nhiều góc cạnh.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện W, tỉnh Sóc Trăng đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08 tháng 11 năm 2024).

5. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lâm Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 1.426.914 đồng.

Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được biết, án xử sơ thẩm công khai quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ