vanban.org

Bản án 56/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị N với ông Nguyễn Trọng M

1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị N đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Trọng M (Giấy chứng nhận kết hôn số 91, quyển số 01/2004, ngày 19/6/2006 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh). 2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trọng Quốc D, sinh ngày 09/6/2015 và Nguyễn Trọng D1, sinh ngày 01/5/20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Thái Thị N yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Trọng M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị N với ông Nguyễn Trọng M
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST
Ngày 15 - 4 - 2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Tú Nhi;

2. Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hồng Sơn - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 481/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Thái Thị N, sinh năm 1987; thƣờng trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú; Đƣờng N, tổ A, khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Nguyễn Trọng M, sinh năm 1980; thƣờng trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú; Đƣờng N, tổ A, khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 12 năm 2023 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Thái Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị N và ông Nguyễn Trọng M tự nguyện yêu nhau, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh theo giấy chứng nhận kết hôn số 91, quyển số 01/2004, ngày 19/6/2006.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại địa chỉ đƣờng N, tổ A, khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vợ chồng sống hạnh phúc thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thƣờng xuyên tranh cãi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Nay, bà Thái Thị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Trọng M.

Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Trọng Quốc D, sinh ngày 09/6/2015 và Nguyễn Trọng D1, sinh ngày 01/5/2006. Bà N có nguyện vọng sau khi ly hôn đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng 02 con chung. Bà N không yêu cầu ông M cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Thái Thị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn Nguyễn Trọng M:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến Tòa án để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa vào các ngày 28/3/2024 và ngày 15/4/2024 nhƣng ông Nguyễn Trọng M không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do, không cung cấp chứng cứ và không nêu ý kiến đối với các yêu cầu của nguyên đơn.

Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Thái Thị N và ông Nguyễn Trọng M do Tòa án nhân dân thành phố Dĩ an, tỉnh Bình Dƣơng xác minh ngày 29/12/2023 (bút lục 19), Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng T cung cấp thông tin nhƣ sau: Bà Thái Thị N không phải là hội viên của Hội phụ nữ phƣờng. Trƣớc khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án, bà Thái Thị N không có yêu cầu địa phƣơng tổ chức hòa giải cơ sở. Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng T cũng không tiếp nhận thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng nhƣ ngƣời dân phản án. Vì vậy, Hội Liên hiệp phụ nữa phƣờng T không rõ nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa ông Nguyễn Trọng M và bà Thái Thị N,

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào ngày 28/3/2024 và ngày 15/4/2024 nhƣng vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về việc vắng mặt của các đƣơng sự: Nguyên đơn bà Thái Thị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn ông guyễn Trọng Mạnh vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị N và ông Nguyễn Trọng M là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh theo giấy chứng nhận kết hôn số 91, quyển số 01/2004, ngày 19/6/2006 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Bà Thái Thị N cho rằng vợ chồng sống chung thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thƣờng xuyên tranh cãi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Nay, bà Thái Thị N xác định tình cảm vợ chồng với ông Nguyễn Trọng M không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn. Bản thân ông Nguyễn Trọng M sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng ông Nguyễn Trọng M không có mặt và cũng không có bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và không muốn hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không đạt đƣợc mục đích. Vì vậy, xét thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống chung của vợ chồng nên yêu cầu ly hôn của bà Thái Thị N là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Quá trình tố tụng ông M không có ý kiến về việc trực tiếp nuôi dƣỡng con và cấp dƣỡng. Xét, việc giao con cho ai chăm sóc phải đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho con, 02 con chung là Nguyễn Trọng Quốc D, sinh ngày 09/6/2015 và Nguyễn Trọng D1, sinh ngày 01/5/2006 đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của bà N, 02 con có nguyện vọng đƣợc ở cùng với cha, mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Vì vậy, giao 02 con chung cho bà N trực tiếp nuôi dƣỡng cũng phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu và phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ giao 02 con chung tên Nguyễn Trọng Quốc D, sinh ngày 09/6/2015 và Nguyễn Trọng D1, sinh ngày 01/5/2006 cho bà Thái Thị N trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Thái Thị N về việc không yêu cầu ông Nguyễn Trọng M thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi 02 con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Bà Thái Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn không có giá ngạch theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các Điều 147, 227, 228, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị N với ông Nguyễn Trọng M

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị N đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Trọng M (Giấy chứng nhận kết hôn số 91, quyển số 01/2004, ngày 19/6/2006 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh).

1.2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trọng Quốc D, sinh ngày 09/6/2015 và Nguyễn Trọng D1, sinh ngày 01/5/2006 cho bà Thái Thị N trực tiếp nuôi dƣỡng. Ông M không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung cho bà N.

Sau khi ly hôn bà N phải tạo điều kiện cho ông M trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông M thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

1.3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Thái Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001421 ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ