- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Kim T đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Bích N về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56 /2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/09/2024 V/v Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Ba
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Thảo
2. Ông Trần Minh Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Trúc lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 277/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 07 năm 2024 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 277/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/08/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 277/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/09/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trần Kim T – Sinh năm: 1986 - Địa chỉ: 18 An M 3, phường An Hải T, quận Sơn T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích N - Sinh năm: 1994 - Địa chỉ: 70 Nguyễn Phước T, phường An K quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn là ông Trần Kim T trình bày:
Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 49/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/03/2024 của Tòa án nhân dân quận Sơn T, thành phố Đà Nẵng đã quyết định giao hai con chung tên Trần Ngọc D - Sinh ngày: 02/03/2018 và Trần Ngọc H - Sinh ngày: 08/08/2020 cho bà Nguyễn Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến tuổi thành niên. Ông T không cấp dưỡng nuôi con.
Nay, ông T yêu cầu Tòa án giải quyết đề nghị được thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau giao con chung tên Trần Ngọc H - Sinh ngày: 08/08/2020 cho ông Trần Kim T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến tuổi thành niên. Ông T không yêu cầu bà N cấp dưỡng.
Nguyên nhân là ông T đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con là do hiện bà N đang trực tiếp nuôi 03 con trong đó có 02 con chung giữa ông T và bà N, còn 01 con là con riêng của bà N, mặt khác việc buôn bán của bà N không ổn định, trong khi đó ông T kinh doanh có doanh thu khoảng 40 triệu tháng và hiện tại ông là người luôn đóng tiền học cho con, ngoài ra ông còn chuyển khoản với số tiền là 5.000.000đ để cấp dưỡng nuôi con.
Tại bản tự khai ngày 13 tháng 08 năm 2024 bà Nguyễn Thị Bích N trình bày :
Sau khi bà và ông T ly hôn, giao các con chung Trần Ngọc D và Trần Ngọc H cho bà trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến tuổi thành niên, ông T không cấp dưỡng nuôi con.
Trong quá trình nuôi con, bà không hề ngăn cản việc ông T thăm nom con, luôn tạo điều kiện cho con chung được gần gũi với ông T, do vậy bà không đồng ý thay đổi người trực tiếp nuôi con của ông Trần Kim T.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến như sau:
+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn thực hiện theo đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS, bị đơn thực hiện chưa đúng theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS khi Tòa án triệu tập lần thứ 2 vắng mặt không có lý do.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các 81, 82,83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của ông Trần Kim T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra lại tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của ông Trần Kim T về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” đối với bà Nguyễn Thị Bích N hiện đang sinh sống tại quận Thanh Khê là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bà Nguyễn Thị Bích N nhưng tại phiên tòa lần 2 bà Nguyễn Thị Bích N vắng mặt không có lý do nên HĐXX căn cứ vào cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Bích N.
Về nội dung: Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 49/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/03/2024 của Tòa án nhân dân quận Sơn T, thành phố Đà Nẵng đã quyết định giao hai con chung tên Trần Ngọc D - Sinh ngày: 02/03/2018 và Trần Ngọc H - Sinh ngày: 08/08/2020 cho bà Nguyễn Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến tuổi thành niên. Ông T không cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Kim T vẫn giữ nguyên yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con giao con chung tên Trần Ngọc H - Sinh ngày: 08/08/2020 cho ông Trần Kim T trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc vì cho rằng bà N không đủ khả năng để chăm lo cho các con chung, công việc kinh doanh của bà N không ổn định, thu nhập không cao.
Qua xác minh thực tế, hiện nay bà N đang nuôi ba con,trong đó có hai con chung với ông Trần Kim T và một con riêng của bà N, bà N hiện đang kinh doanh dừa nhưng bà N không chứng minh được thu nhập hàng tháng của bà. Trong khi đó việc kinh doanh dừa của ông T có thu nhập ổn định hàng tháng khoảng 40 triệu, mặt khác ông T và bà N ly hôn từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay, bà N đã nhắn tin yêu cầu ông T phải nộp tiền học phí cho con chung, ngoài ra ông còn chuyển khoản 5.000.000đ cho bà N để cấp dưỡng nuôi con chung.
Do bà N không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh về việc bà có thu nhập ổn định hàng tháng và có khả năng chăm lo cho các con chung , nên HĐXX chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn của ông T giao con chung tên Trần Ngọc H - Sinh ngày: 08/08/2020 cho ông Trần Kim T trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến tuổi thành niên, bà N không cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nguyên đơn ông Trần Kim T phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các khoản 3 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 81, 82,83, 84 và Điều 85 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Kim T đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Bích N về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.
Giao con chung tên Trần Ngọc H - Sinh ngày: 08/08/2020 cho ông Trần Kim T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến tuổi thành niên. Ông T không yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích N phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trờ. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
2. Về án phí: Ông Trần Kim T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0005759 ngày 25 tháng 07 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Ông Thủ đã nộp đủ tiền án phí.
3. Án xử sơ thẩm, công khai, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27/09/2024. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Thanh Khê; - Chi cục THADS quận Thanh Khê; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Ba |