- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị L. Buộc các bị đơn bà Lý Thị Cành N và ông Thạch B (B) có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn bà Ngô Thị L số tiền hụi còn nợ là: 204.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2024/DS-ST Ngày: 19 - 8 - 2024. V/v Tranh chấp đòi nợ hụi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Thanh Chiều;
Ông Lê Hoàng Điệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp đòi nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị L; Hộ khẩu thường trú: Ấp Đai Ú, xã Phú M, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T.
Chỗ ở hiện nay: Ấp Tà Â, xã Thuận H, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Kim Điền P; Đia chỉ: Số 6, Đường Hùng V, ấp Cầu Đ, Thị trấn Huỳnh Hữu N, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T - Theo Giấy ủy quyền ngày 24 tháng 4 năm 2023 (có mặt).
- Bị đơn:
+ Bà Lý Thị Cành N;
+ Ông Thạch B (Tên thường gọi B); Cùng cư trú tại: Ấp Tà Â, xã Thuận H, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 4 năm 2023 của nguyên đơn bà Ngô Thị L và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Kim Điền P trình bày:
Vào năm 2017 bà Ngô Thị L có tham gia dây hụi do vợ chồng bà Lý Thị Cành N và ông Thạch B (B) làm chủ hụi, các dây hụi như sau:
- Dây thứ 01 (hụi tháng): Dây hụi này có 31 phần, bà L tham gia chơi 02 phần 1.000.000 đồng, mở ngày 20 tháng 10 năm 2017 (âm lịch). Hụi mãn vào ngày 20/4/2020.
+ Phần hụi thứ nhất: Bà L đã hốt và bà Cành N đã giao tiền hụi cho bà L và còn nợ lại bà L số tiền: 5.360.000 đồng.
+ Phần hụi thứ hai: Bà L hốt hụi vào ngày 20/9/2019 số tiền 26.560.000 đồng, nhưng chưa giao tiền hụi.
- Ngoài ra, trong dây hụi tháng mở ngày 20 tháng 10 năm 2017 thì bà L có mua hụi của những người chơi gồm: Bà Cành N (chủ hụi 01 phần), bà L (mẹ Canh N 01 phân), bà Xà P (02 phần), cụ thể:
+ Phần hụi của bà Lý Thị Canh N, bà L hốt ngày 20/01/2020 số tiền 31.000.000 đồng.
+ Phần hụi của L (mẹ Canh N) bà L hốt ngày 20/02/2020 với số tiền 31.000.000 đồng.
- Phần hụi thứ nhất của bà Xà P, bà L hốt ngày 20/3/2020 với số tiền 31.000.000 đồng.
- Phần hụi thứ hai của bà Xà P, bà L hốt ngày 20/4/2020 với số tiền 31.000.000 đồng.
Dây hụi này bà Lý Thị Cành N và ông Thạch B (B) còn nợ bà L số tiền hụi là 155.920.000 đồng (Một trăm năm mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng).
Bà L và bà Cành N có thoả thuận là bà N sẽ bán (tràng) cho bà L phần hụi mở ngày 21/4/2018 (15 ngày khui một lần) do bà Lý Thị Xà M làm chủ hụi, lúc bán (tràng) hụi thì hụi đã khui đến ngày 08/5/2018 đến ngày 21/01/2020 thì bà L hốt hụi với số tiền là 12.600.000 đồng nhưng mà trước đó do bà Cành N còn nợ tiền bà M nên bà M đã cấn trừ số tiền này, nên bà L không thể hốt được, vì vậy bà Cành N còn nợ lại bà L số tiền 12.600.000 đồng (Mười hai triệu, sáu trăm nghìn đồng).
- Dây hụi thứ 02 (hụi mùa): Dây hụi có 18 phần, bà L tham gia 03 phần 2.000.000 đồng, mở ngày 10 tháng 11 năm 2017 (âm lịch), Hụi chưa mãn thì bà Cành N tự ngừng hụi ở kỳ khui thứ 6 vào ngày 10/02/2016, bà Lý Thị Cành N đồng ý trả cho bà L 06 lần hụi sống, cụ thể:
+ Phần hụi thứ nhất đóng hụi được 06 lần x 2.000.000 đồng = 12.000.000 đồng.
+ Phần hụi thứ hai đóng hụi được 06 lần x 2.000.000 đồng = 12.000.000 đồng.
+ Phần hụi thứ ba đóng hụi được 06 lần x 2.000.000 đồng = 12.000.000 đồng.
Như vậy dây hụi bà Cành N và ông Thạch B (B) còn nợ lại bà L số tiền 36.000.0000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng).
Tổng số tiền hụi mà bà Cành N và ông Thạch B (B) còn nợ bà L là 155.920.000 đồng (dây 1) + 12.600.000 đồng (tiền tràng hụi mùa) + 36.000.000 đồng = 204.520.000 đồng (Hai trăm lẻ bốn triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng).
Bà Ngô Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết. Buộc bà Lý Thị Cành N và ông Thạch B (B) phải trả cho bà Ngô Thị L số tiền nợ hụi là 204.520.000 đồng (Hai trăm lẻ bốn triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng).
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04 tháng 7 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lý Thị Cành N trình bày:
Vào năm 2018 bà Ngô Thị L có tham gia dây hụi do vợ chồng bà Lý Thị Cành N và ông Thạch B (B) làm chủ hụi, bà Lý Thị Cành N thừa nhận còn nợ bà L số tiền 172.656.000 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
- Bà L tham gia 04 dây hụi tháng, nhưng không nhớ ngày tháng năm 2018, số tiền còn nợ bà L là: 120.000.000 đồng.
- Bà L tham gia 03 dây hụi mùa, nhưng không nhớ ngày tháng năm 2018, số tiền còn nợ bà L là 36.000.000 đồng.
- Bà L tham gia 01 dây hụi tháng, nhưng không nhớ ngày tháng năm 2018, đã trả cho bà L nhưng không nhớ số tiền là bao nhiêu, số tiền còn nợ bà L là 16.656.000 đồng.
Bà Ngô Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết. Buộc bà Lý Thị Cành N và ông Thạch B (B) phải trả cho bà Ngô Thị L số tiền nợ hụi là 204.520.000 đồng (Hai trăm lẻ bốn triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng) thì Bà Lý Thị Cành N không đồng ý, lý do chỉ nợ bà L số tiền là 172.656.000 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng). Về chứng cứ mà phía bà L cung cấp thì bà Lý Thị Cành N thống nhất không có ý kiến.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Lý Thị Cành N thừa nhận còn nợ tiền hụi của nguyên đơn số tiền là: 204.520.000 đồng và xin trả mỗi tháng 3.000.000 đồng, hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04 tháng 7 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Thạch B (B) trình bày:
Vào năm 2018 bà Ngô Thị L có tham gia dây hụi do vợ chồng bà Lý Thị Cành N và ông Thạch B (B) làm chủ hụi, ông Thạch B thừa nhận còn nợ bà L số tiền 172.656.000 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
- Bà L tham gia 04 dây hụi tháng, nhưng không nhớ ngày tháng năm 2018, số tiền còn nợ bà L là: 120.000.000 đồng.
- Bà L tham gia 03 dây hụi mùa, nhưng không nhớ ngày tháng năm 2018, số tiền còn nợ bà L là 36.000.000 đồng.
- Bà L tham gia 01 dây hụi tháng, nhưng không nhớ ngày tháng năm 2018, đã trả cho bà L nhưng không nhớ số tiền là bao nhiêu, số tiền còn nợ bà L là 16.656.000 đồng.
Bà Ngô Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết. Buộc bà Lý Thị Cành N và ông Thạch B (B) phải trả cho bà Ngô Thị L số tiền nợ hụi là 204.520.000 đồng (Hai trăm lẻ bốn triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng) thì ông Thạch B (B) không đồng ý, lý do chỉ nợ bà L số tiền là 172.656.000 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng). Về chứng cứ (Biên nhận tiền hụi) mà phía bà L cung cấp thì ông Thạch B (B) thống nhất không có ý kiến.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Thạch B (B) thừa nhận còn nợ tiền hụi của nguyên đơn số tiền là: 204.520.000 đồng và xin trả mỗi tháng 3.000.000 đồng, hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Nguyên đơn và các bị đơn có hợp đồng góp hụi, nguyên đơn cung cấp chứng cứ bị đơn có ký nhận còn nợ tiền hụi của nguyên đơn là 204.520.000 đồng (Hai trăm lẻ bốn triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng) nhưng bị đơn không thanh toán tiền nợ hụi cho nguyên đơn, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các bị đơn trả tiền nợ hụi là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc các bị đơn có nghĩa vụ liên đới thanh toán tiền nợ hụi cho nguyên đơn là 204.520.000 đồng (Hai trăm lẻ bốn triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử nhận thấy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các bị đơn trả tiền nợ hụi. Trong quá trình góp hụi các bị đơn không thực hiện đúng như thỏa thuận, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc các bị đơn trả số tiền nợ hụi. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp đòi nợ hụi chứ không phải tranh chấp hợp đồng góp hụi như Tòa án xác định theo đơn khởi kiện của nguyên đơn khi thụ lý vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp cho phù hợp với nội dung tranh chấp.
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp đòi nợ hụi theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn cư trú ấp Tà Â, xã Thuận H, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Các bị đơn thừa nhận có nợ tiền hụi của nguyên đơn và nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án Biên nhận bị đơn nợ tiền hụi. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử khẳng định đây là sự thật.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu các bị đơn trả số tiền nợ hụi, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình tham gia hụi do bị đơn làm chủ hụi, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của hụi viên, tham gia khui hụi và đóng hụi. Bị đơn làm chủ hụi nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ và không tiếp tục khui hụi, cũng không trả tiền hụi cho nguyên đơn. Theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường quy định nghĩa vụ của chủ họ: “Giao các phần họ của thành viên lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ.”. Căn cứ quy định này thì bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền hụi còn nợ là: 204.520.000 đồng. Tuy các lời khai tại Tòa án thì các bị đơn chỉ thừa nhận còn nợ tiền hụi của nguyên đơn là :172.656.000 đồng, nhưng tại phiên tòa các bị đơn thừa nhận còn nợ tiền hụi của nguyên đơn là: 204.520.000 đồng (Hai trăm lẻ bốn triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng), bị đơn có ký tên nhận nợ tiền hụi cho nguyên đơn. Cho nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các bị đơn trả số tiền nợ hụi là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa các bị đơn xin trả mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi dứt nợ tiền hụi, hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng trả một lần cho nguyên đơn được. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận theo yêu cầu của các bị đơn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phi dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số:
́ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Các bị đơn phải chịu phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, do các bị đơn thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 3 Điều 18 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
- Khoản 2 Điều 26 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị L. Buộc các bị đơn bà Lý Thị Cành N và ông Thạch B (B) có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn bà Ngô Thị L số tiền hụi còn nợ là: 204.520.000 đồng (Hai trăm lẻ bốn triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng).
2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà các bị đơn chưa thanh toán, thì hàng tháng các bị đơn còn phải trả lãi cho nguyên đơn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm thi hành án.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;
- Các bị đơn bà Lý Thị Cành N và ông Thạch B (B) được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 10.226.000 đồng (Mười triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và các bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trinh tự phúc thẩm.
̀
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Thị Kiều Oanh |