- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Băc - Oanh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thanh B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2024/DS-ST Ngày 09 – 4 – 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hàng Bích Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Hoàng Sơn
Ông Huỳnh Hoàng Khởi
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Cúc – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 525/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023, về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thanh B; Sinh năm: 10/9/1960.
Địa chỉ: Số A đường LVL, khóm 6, Phường 1, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Khương Kim Thúy K; Sinh năm 1997. Địa chỉ: Ấp TPA, xã HT, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn N– Văn phòng Luật sư Á – Đoàn Luật sư tỉnh CM. (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị O; Sinh năm: 1975. (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm 1, phường TX, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, bà Khương Kim Thúy K – Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/11/2022 âm lịch, bà Huỳnh Thanh B có cho bà Nguyễn Thị O vay số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất vay 5%/tháng. Khi vay bà O có viết biên nhận nợ. Quá trình thực hiện hợp đồng vay bà O có thanh toán lãi cho bà B nhiều lần nhưng không nhớ rõ cụ thể bao nhiêu. Đến ngày 06/3/2023 âm lịch bà O thanh toán cho bà B số tiền 10.000.000 đồng thì ngưng đến nay. Bà B yêu cầu bà O thanh toán số tiền vốn vay còn lại là 30.000.000 đồng và yêu cầu thanh toán lãi tính từ ngày 25/4/2023 (06/3/2023 âl) đến ngày 25/02/2024 lãi suất 1,66%/tháng x 10 tháng = 4.980.000 đồng. Tổng cộng yêu cầu bà O thanh toán 34.980.000 đồng.
Tại bản tự khai ngày 13/3/2024, bà Nguyễn Thị O trình bày:
Năm 2022 bà Huỳnh Thanh B có cho bà Nguyễn Thị O vay số tiền 40.000.000 đồng. Khi vay bà O có viết biên nhận nợ. Quá trình thực hiện hợp đồng vay bà O có thanh toán lãi cho bà B nhiều lần nhưng không nhớ rõ cụ thể bao nhiêu. Đến ngày 06/3/2023 âm lịch bà O thanh toán cho bà B số tiền 10.000.000 đồng thì ngưng đến nay. Bà O đồng ý thanh toán cho bà B số tiền vốn 30.000.000 đồng, đồng ý thanh toán lãi từ ngày 06/3/2023 âl với lãi suất 1,66%/ tháng. Bà O yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng, bà Nguyễn Thị O yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng dân sự, cụ thể là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà B về việc buộc bà O thanh toán nợ vay với số tiền 30.000.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, bà B có nộp cho Tòa án Biên nhận ngày 25/11/2022 âm lịch thể hiện nội dung bà O có vay bà B tổng số tiền 40.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng bà O đã thanh toán 10.000.000 đồng còn nợ lại 30.000.000 đồng, việc này được bà O thừa nhận. Do bà O vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên bà B yêu cầu bà O thanh toán nợ vay với số tiền 30.000.000 đồng là có cơ sở.
Về lãi suất: Bà B yêu cầu bà O thanh toán lãi tính từ ngày 25/4/2023 (06/3/2023 âl) đến ngày 25/02/2024 lãi suất 1,66%/tháng x 10 tháng = 4.980.000 đồng là phù hợp quy định pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán số tiền 34.980.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà O phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, 227,228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 và 357 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thanh B.
Buộc bà Nguyễn Thị O có nghĩa vụ thanh toán cho bà B số tiền 34.980.000 đồng (Ba mươi bốn triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng). Trong đó tiền vốn là 30.000.000 đồng, tiền lãi 4.980.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi chậm trả đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, mức lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định của khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị O phải chịu 1.749.000 đồng (Chưa nộp). Bà Huỳnh Thanh B không phải chịu án phí, bà B được miễn nộp tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên không xem xét việc nhận lại án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA; - VKSND thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hàng Bích Trâm |