- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trang chấp vay tài sản giữa Lê Nguyễn Duy L và Lê Hải Đ, Lê Thị Thanh T"
- Tòa quyết gì? Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Nguyễn Duy L về việc yêu cầu anh Lê Hải Đ, chị Lê Thị Thanh T trả số tiền 60.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2024/DS-ST Ngày: 12-4-2024 V/v tranh chấp:“Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Bền
2. Ông Phan Thanh Dũng
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Phục là Thư ký toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 566/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXX-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Nguyễn Duy L, sinh năm 1980
Địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang
Uỷ quyền: Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1962
Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang
(Văn bản uỷ quyền ngày 02/8/2023)
- Bị đơn: Lê Hải Đ, sinh năm 1987
Lê Thị Thanh T, sinh năm 1991
Cùng địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1962
Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang
2/ Nguyễn Thị Trường D, sinh năm 2005
Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang
(Có mặt các đương sự)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H trình bày: Lê Hải Đ là em của Lê Nguyễn Duy L, trước đó vợ chồng Lê Hải Đ, Lê Thị Thanh T có hỏi mượn tiền L 100.000.000 đồng. Ngày 10/8/2020 L có đưa 100.000.000 đồng cho bà để bà đưa cho vợ chồng Đ, T mượn, sau khi nhận tiền bà có báo cho vợ chồng Đ biết, Đ nói bà lấy tiền này để trả tiền vật tư xây nhà cho vợ chồng Đ. Từ tháng 12/2022 đến tháng 02/2023 T có trả được cho L 40.000.000 đồng, trả đưa cho con của L là Nguyễn Thị T1 D nhận. Nay L yêu cầu Đ, T trả số tiền còn lại là 60.000.000 đồng.
Bị đơn anh Lê Hải Đ, chị Nguyễn Thị Thanh T2 trình bày: không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của chị L do vợ chồng anh không có thiếu nợ chị L. Vợ chồng anh có cất nhà nhưng là tiền của vợ chồng anh không có mượn của chị L.
Nguyễn Thị Trường D trình bày: con là con của Lê Nguyễn Duy L, có nhận 40.000.000 của chị T2 đưa, lúc đưa tiền có nói trả tiền cho con đi học. Việc vợ chồng Đ, T2 mượn tiền có nghe mẹ L nói lại chứ không có chứng kiến đưa tiền.
Tại phiên tòa, đại diện uỷ quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu anh Lê Hải Đ, chị Lê Thị Thanh T trả số tiền vay cho chị L là 60.000.000đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xác định tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Nguyễn Duy L yêu cầu anh Lê Hải Đ, chị Lê Thị Thanh T trả số tiền vay 60.000.000 đồng, Hội đồng xét thấy yêu cầu này là không có cơ sở để chấp nhận bởi lẽ, việc vay tiền ngoài lời khai của nguyên đơn thì nguyên đơn cũng không cung cấp được giấy tờ hoặc tài liệu, chứng cứ chứng minh bị đơn anh Đ, chị T có vay tiền. Tại phiên toà đại diện uỷ quyền của nguyên đơn trình bày do tin tưởng chị em trong gia đình nên không viết giấy vay, phía anh Đ, chị T không thừa nhận có việc vay tiền của chị L, do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Do không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Nguyễn Duy L về việc yêu cầu anh Lê Hải Đ, chị Lê Thị Thanh T trả số tiền 60.000.000 đồng.
Về án phí: Chị Lê Nguyễn Duy L phải chịu 3.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị L đã nộp 1.500.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010694 ngày 13/12/2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, chị L còn phải nộp tiếp 1.500.000 đồng.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang,; - VKSND huyện Châu Thành; - THADS huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu. | TM .HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Phan Thị Kim Hà |