- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công P - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Công P phạm các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HSST Ngày 22-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Hoan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cáp Văn Dũng;
Bà Nguyễn Thị Mai Hương
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Hạp Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Châm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22-12-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 51/2023/TLST-HS, ngày 23-11-2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST-HS ngày 08-12-2023, đối với bị cáo:
Trần Công P, sinh năm 1993; HKTT: Thôn K, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Trần Công P, sinh năm 1972 (đã chết); Con bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1975;
Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1988, HKTT: Khu Bồ Sơn, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Ở điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh - Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Công P, sinh năm 1993, HKTT: Thôn K, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng đăng nhập Facebook và lập trang “Vay tiền Bắc Ninh, Bắc Giang” để hỗ trợ cho khách hàng vay tiền (trên trang Facebook P để số điện thoại 0889834589 có zalo “Quả cà chua” của P). Khoảng 16 giờ ngày 15/8/2023 anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1988, HKTT: Khu Bồ Sơn, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh sử dụng zalo tên “Nguyễn Hồng Q” nhắn tin đến zalo “Quả cà chua” của P, trao đổi về nhu cầu muốn vay 40.000.000 đồng nên P hẹn anh Q ra quán nước gần Bệnh viện Hoàn Mỹ ở khu Bồ Sơn, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh nói chuyện. Tại quán nước, P bảo anh Q cung cấp số điện thoại, đưa cho P căn cước công dân và tải phần mềm FE online về điện thoại để P hướng dẫn anh Q làm thủ tục vay tiền. Sau khi anh Q tải xong phần mềm FE online, P sử dụng điện thoại của anh Q đăng nhập vào ứng dụng, sử dụng thông tin trên căn cước công dân, số điện thoại của anh Q để đăng ký hồ sơ vay số tiền 40.000.000 đồng. Sau khi đăng ký xong, P nói anh Q phải chờ bên FE duyệt, sau đó anh Q và P đi về.
Đến khoảng 08 giờ ngày 16/8/2023, P sử dụng điện thoại Iphone 6S Plus màu hồng của P vào ứng dụng FE online và đăng nhập vào tài khoản FE online của anh Q (do P mở tài khoản cho anh Q nên P biết và nhớ mật khẩu để đăng nhập) thì thấy hồ sơ vay 40.000.000 đồng của anh Q đã được FE online duyệt cho vay số tiền 38.620.000 đồng và thông báo ra Ngân hàng Vietinbank để nhận tiền (thời điểm này thủ tục vay tiền của anh Q đã hoàn thành). Lúc này P nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền vay của anh Q nên P đã mở tài khoản số 1022246359 tại Ngân hàng SHB mang tên Nguyễn Hồng Q nhưng đăng ký số điện thoại 0944826901 của P (mục đích P mở tài khoản này là để khi anh Q nhận được tiền FE online giải ngân P sẽ bảo anh Q là phải tiếp tục chuyển số tiền này vào tài khoản Ngân hàng SHB tên anh Q thì mới hoàn thành thủ tục vay vốn và rút được tiền). Sau đó, P liên lạc với chị Hoàng Thị T, sinh năm 1994 ở thôn Vối, xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, bảo chị T cho P chuyển nhờ số tiền vào tài khoản của chị T, chị T đồng ý. Chị T đăng nhập Messenger “Hoàng T” nhắn tin số tài khoản Ngân hàng BIDV 2560001373268 của chị T đến Messenger “Trần Công P” của P. Sau khi nhận được số tài khoản ngân hàng chị T nhắn, P điện thoại cho anh Q bảo “Anh ở đâu em qua hỗ trợ anh giải ngân” thì anh Q đồng ý. P và anh Q cùng nhau đi đến Ngân hàng Vietinbank ở phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh để làm thủ tục giải ngân. Tại đây, P hướng dẫn anh Q sử dụng điện thoại đăng nhập vào ứng dụng FE online của anh Q, chụp ảnh khuôn mặt để lấy mã giao dịch thì anh Q được cấp mã giao dịch 93585536. Sau đó, P tiếp tục hướng dẫn anh Q sử dụng mã này cung cấp cho giao dịch viên của Ngân hàng Vietinbank và được giao dịch viên giải ngân khoản cho vay của FE online số tiền 38.607.000 đồng (đã trừ 13.000 đồng tiền phí). Do có sự chuẩn bị từ trước, P bảo anh Q phải chuyển số tiền này vào tài khoản Ngân hàng SHB số 1022246359 mà P đã tạo trước đó. Anh Q tin tưởng, chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng SHB có địa chỉ tại khu 10, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh mang tên anh Q do P lập, rồi P và anh Q ra quán nước ngồi chờ. Tại đây, P sử dụng điện thoại của P đăng nhập vào tài khoản Ngân hàng SHB do P lập và chuyển số tiền 38.607.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng BIDV của chị T. Do chờ lâu mà chưa nhận được tiền, anh Q yêu cầu P đi cùng đến Ngân hàng SHB để rút khoản tiền vừa vay. Khi anh Q vào kiểm tra tài khoản Ngân hàng SHB mang tên anh Q thì được nhân viên ngân hàng thông báo số tiền anh vay đã được chuyển sang tài khoản số 2560001373268 Ngân hàng BIDV mang tên Hoàng Thị T. Nghi ngờ P chiếm đoạt tiền, anh Q đã báo sự việc đến Công an phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, đồng thời tìm cách giữ chân P tại cửa Ngân hàng SHB. Đúng lúc này, Công an phường Đại Phúc phối hợp đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Bắc Ninh tuần tra đến, yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, thu giữ:
- Trần Công P tự nguyện giao nộp từ trong túi quần phía sau bên phải P mặc 01 chiếc ví giả da màu đen nhãn hiệu HUYTAM, bên trong ví có 02 túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi nilon đều chứa 01 viên nén màu đỏ và chất tinh thể màu trắng. P tự khai viên nén màu đỏ là ma tuý tổng hợp dạng “ngựa”, chất tinh thể màu trắng là ma tuý tổng hợp dạng “đá” P mua về để sử dụng nhưng chưa sử dụng thì bị kiểm tra. Cơ quan Công an đã niêm phong các viên nén màu đỏ, tinh thể màu trắng vào phong bì thư theo quy định.
Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của P: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, lắp 02 sim số 0944.826.901 và 0944.829.480; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu hồng, lắp sim số 0947.693.850 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, lắp sim số 0889.834.589.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã Quyết định trưng cầu giám định đối với số viên nén màu đỏ, tinh thể màu trắng thu giữ của P.
Tại bản Kết luận giám định số 1719A/KL- KTHS ngày 18/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- 02 viên nén màu đỏ bên trong phong bì thư gửi đi giám định có khối lượng 0,2290 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine.
- Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư gửi đi giám định có khối lượng 0,3495 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ - CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Về nguồn gốc số ma tuý Công an thu giữ, P khai nhận: Trước đó khoảng 2- 3 ngày, P gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết tại ngã tư Đông Côi, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh mua 400.000 đồng ma túy được 02 túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi đều chứa 01 viên nén màu đỏ và chất tinh thể màu trắng để về sử dụng cho bản thân nhưng P chưa sử dụng, vẫn giữ ở trong ví, ngày 16/8/2023, Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.
Cùng ngày, chị T sau khi được Cơ quan Công an thông báo số tiền 38.607.000 đồng P chuyển vào tài khoản của chị là tiền P chiếm đoạt của anh Q, chị T đã tự nguyện nộp lại số tiền trên cho Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Ninh.
Với các tình tiết nêu trên tại Bản Cáo trạng số 239/CT - VKSTPBN ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Trần Công P ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc ninh để xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố giữ nguyên bản cáo trạng số 239/CT - VKSTPBN ngày 23/11/2023 và sau khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cũng như nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Công P phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Công P từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 42 đến 54 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết.
Về vật chúng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu hồng, lắp sim số 0947.693.850; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, lắp sim số 0889.834.589 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, lắp 02 sim số 0944.826.901 và 0944.829.480.
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định và 01 chiếc ví giả da màu đen nhãn hiệu HUYTAM.
Bị cáo không tham gia tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại; phù hợp với biên bản kiểm tra. Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 16/8/2023, tại Ngân hàng SHB, khu 10, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Trần Công P sử dụng điện thoại di động của anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1988, HKTT: Khu Bồ Sơn, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đăng nhập phần mềm FE online vay tiền giúp anh Q. Khi biết anh Q được FE online duyệt khoản vay qua Ngân hàng Vietinbank, P đã có hành vi gian dối bảo anh Q yêu cầu cán bộ Ngân hàng Vietinbank chuyển toàn bộ số tiền vào tài khoản do P mở ở Ngân hàng SHB đứng tên anh Q nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 38.607.000 đồng của anh Q. Sau khi biết Trần Công P chiếm đoạt số tiền vay, anh Q đã báo Công an phường Đại Phúc. Công an phường Đại Phúc phối hợp Công an thành phố Bắc Ninh bắt giữ P. Sau khi bắt giữ P, Cơ quan Công an thu giữ trên người P 0,5785 gam ma tuý Methamphetamine P cất giữ để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo Trần Công P đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng số 239/CT - VKSTPBN ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Trần Công P với các tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân; Hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, tệ nạn ma tuý gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của người sử dụng, làm suy giảm nòi giống và làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Ma tuý cũng là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác. Hơn nữa, việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết rõ tác hại và sự nguy hiểm về hành vi của bản thân, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà mình đã thực hiện. Cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung; Trong cùng thời điểm, bị cáo phạm 02 tội, do vậy cần tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự.
Xét về nhân thân của các bị cáo là người có nhân thân tốt, tuy nhiên bị cáo trong khoảng thời gian ngắn đã phạm 02 tội, trong đó 01 tội ít nghiêm trọng, 01 tội nghiêm trọng; do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Sau khi phạm tội, tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo có ông bà nội của bị cáo là người có công với Cách mạng; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của anh Nguyễn Hồng Q là số tiền 38.607.000 đồng; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã thu hồi trả lại cho anh Q; Anh Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì, nên vấn đề trách nhiệm bồi thường dân sự của bị cáo đối với anh Q không đặt ra xem xét giải quyết.
Về vật chúng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã thu giữ của bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu hồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, 01 chiếc ví giả da màu đen nhãn hiệu HUYTAM và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen. Cả 03 chiếc điện thoại này bị cáo đều sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Còn chiếc ví giả da màu đen nhãn hiệu HUYTAM là tài sản của bị cáo, bị cáo không yêu cầu trả lại cho bị cáo; Xét thấy chiếc ví này không còn giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số ma túy - mẫu vật còn lại sau giám định là vật không được sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chị Hoàng Thị T cho P chuyển nhờ tiền vào tài khoản, chị T không biết số tiền 38.607.000 đồng P chuyển đến tài khoản của chị do P chiếm đoạt của anh Q mà có. Mặt khác, sau khi biết sự việc, chị T đã tự nguyện giao nộp lại số tiền trên phục vụ điều tra nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh không xử lý là phù hợp. Xét thấy không cần thiết phải đưa chị T vào tham gia tố tụng trong vụ án này.
Đối với người đàn ông theo P khai bán ma tuý cho P ở khu vực ngã tư Đông Côi, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, P không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã áp dụng các biện pháp điều tra cần thiết, nhưng không xác định được danh tính của đối tượng này; Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Công P phạm các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về thu nộp án phí, lệ phí.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Công P 24 (Hai bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 42 (Bốn mươi hai) tháng. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/8/2023.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo Trần Công P 45 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/12/2023 để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu hồng, lắp sim số 0947.693.850; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, lắp sim số 0889.834.589 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, lắp 02 sim số 0944.826.901 và 0944.829.480.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc ví giả da màu đen nhãn hiệu HUYTAM và mẫu vật còn lại sau giám định có đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh.
(Theo biên bản giao nhận tài sản vật chứng ngày 20/11/2023).
Về án phí : Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cáp Văn Dũng Nguyễn Thị Mai Hương
Vũ Văn Hoan Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh Bắc Ninh.
- VKSND thành phố Bắc Ninh.
- Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
- Công an TP Bắc Ninh.
- Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh
- Những người tham gia tố tụng.
- Lưu.
Vũ Văn Hoan
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh. - VKSND thành phố Bắc Ninh. - Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. - Công an TP Bắc Ninh. - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh - Những người tham gia tố tụng. - Lưu. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Văn Hoan |