- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Thị T - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HSST Ngày 12 tháng 7 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Hợp
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hiều và bà Lê Thị Mai
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Thành, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ hình sự thụ lý số 58/2023/HSST ngày 26/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXX-ST ngày 06/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26 ngay 22/6/23 đối với. *> Các bị cáo: 1. Họ và tên: Hà Văn Th, sinh năm 1985; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Hà Văn U và con bà Nguyễn Thị T; Vợ: Hà Thị X và 01 con nhỏ; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/02/2023 đến ngày 09/3/2023, được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. 2. Họ và tên: Hà Quang V, sinh năm 1999; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Hà Q Thuận ( đã chết) và con bà Hà Thị T; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/02/2023 đến ngày 09/3/2023, được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. 3. Hà Thị T, sinh năm 1979; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Hà Xuân K và con bà Đào Thị Nh; Tiền sự; Tiền án: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. *> Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Doãn S, sinh năm 1985 Địa chỉ: Thôn 8, xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa Các bị cáo và người liên quan đều có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 03/11/2022, tại khu vực đường tỉnh lộ 516C, trước cổng Công ty giầy SunJade, thuộc phố Bà Triệu, thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp chỗ bán hàng giữa bị cáo Lê Thị T và vợ chồng anh Lê Doãn S chị Vũ Thị H. Bị cáo Hà Văn Th ( con rể bị cáo T) thấy mẹ vợ cải nhau với vợ chồng anh S nên đã cùng với bị cáo T, chửi bới, đuổi đánh anh S trên khu vực lòng đường ở phố Bà Triệu, thị trấn Triệu Sơn. Quá trình bị đuổi đánh, anh S dùng tay chân để chống trả lại thì bị cáo Th chiếc cầm cân đồng hồ bằng kim loại trên xe hoa quả của anh S, đập vỡ mặt đồng hồ xe máy nhãn hiệu Vectar BKS 36H8 – 0835 của anh S rồi tiếp tục dùng cân ném vào người anh S, sau đó bị cáo Th tiếp tục lấy một đoạn gậy bằng kim loại (dạng tiếp sắt vuông) dài khoảng 60cm trên xe anh S, lùa đánh anh S chạy trên đường và đánh nhiều cái vào người anh S, trong lúc bị cáo Th lùa đánh anh S thì bị cáo T cũng có hành vi dùng tay đánh anh S vừa đánh vừa chửi bới làm mất trật tự công cộng, khoảng 10 phút sau, bị cáo Hà Quang V (con trai bị cáo T) cũng đang bán hàng trước cổng công ty SunJade cách đó khoảng 70m, nghe nói mẹ bị đánh nên cầm theo một con dao dùng để chặt dừa dài 37cm, chạy từ chổ bán hàng đến hiện trường, vừa chạy vừa chửi bới, đe dọa anh S, khi chạy gần đến chổ anh Sửu thì được mọi người xung quanh can ngăn nên bị cáo chưa gây thương tích gì cho anh S, đến ngày 04/01/2023 bị cáo V đến Công an đầu thú và giao nộp con dao mà V đã dùng đe dọa, chửi bới anh Sửu.
Báo cáo của phố trưởng phố Bà Triệu, Công an thị trấn Triệu Sơn và một số hộ dân ở khu vực hiện trường. Địa điểm xảy ra vụ việc là khu vực chợ tự phát, trước cổng Công ty giầy SunJade, nơi tập trung đông người buôn bán hàng hóa, phương tiện giao thông qua lại, vụ việc chửi bới, lùa đuổi, đánh nhau làm náo loạn khu phố, có đông người đến can ngăn đã gây cản trở giao thông, ảnh hưởng đến hoạt động buôn bán bình thường của các hộ dân hai bên đường, gây mất trật tự công cộng.
Cơ quan CSĐT đã tiến hành trích xuất 04 video tệp hình ảnh từ hệ thống camera an ninh để ghi nhận nội dung diễn biến sự việc và tiến hành trưng cầu giám định tính nguyên vẹn, mô tả hình ảnh của các tệp video đã thu giữ. Tại kết luận giám định số 1229/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép trong 04 tệp video gửi giám định và trích xuất 12 ảnh trong các tệp video gửi giám định.
Tại kết luận giám định số 1255/KL-KTHS ngày 24/11/2022 phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tổng tỷ lệ thương tích của anh Lê Doãn Sửu là 3%
Tại kết luận định giá ngày 21/3/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự xác định 01 ốp nhựa mặt đồng hồ của xe máy BKS 36H8- 0835 nhãn hiệu Vecter đã qua sử dụng trị giá 80.000đ
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 1255/2022/TTPT ngày 24/11/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương của anh Sửu 03%
Vật chứng: Đối với 01 gậy sắt bị cáo Th dùng để lùa đuổi và gây thương tích cho anh Sửu, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả
Đối 01 con dao bị cáo V giao nộp, chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn bảo quản chờ xử lý.
Về dân sự: Anh S không có yêu cầu các bị cáo bồi thường về dân sự
Tại bản Cáo trạng số 61/QĐ-VKS ngày 23/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn đã truy tố các bị cáo Hà Văn Thắng và Hà Quang Vũ về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 và bị cáo Hà Thị Tuyết về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự, (Viết tắt BLHS) tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 65 BLHS cho hai bị cáo Hà Văn Th và Hà Quang V, áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s, i khoản 1,2 Điều 51, Điều 65 BLHS cho bị cáo Tuyết để tuyên bố các bị cáo phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng” xử phạt bị cáo Hà Văn Th từ 30 đến 36 đến tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án; Bị cáo Hà Quang V từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách từ 48 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án; Bị cáo Hà Thị T từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách từ 18 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án, giao các bị cáo cho chính quyền nơi các bị cáo cư trú, giám sát, giáo dục.
Trách nhiệm dân sự: Anh S không có yêu cầu gì nên không xem xét
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao thu giữ của bị cáo Vũ vì không còn giá trị sử dụng.
Phần tranh luận: Các bị cáo nhận tội như Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, không có tranh luận gì, lời nói sau cùng của bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình điều tra, tru tố và tại phiên tòa bị cáo và người làm chứng đều không có khiếu nại, tố cáo gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện thể hiện trong hồ sơ đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận:
Bị cáo T khai nhận : Khoảng 16 giờ ngày 03/11/2022, tại khu vực trước cổng Công ty giầy SunJade, thuộc phố Bà Triệu, thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp chỗ bán hàng giữa bị cáo và vợ chồng anh S chị H cũng đang bán hàng khu vực này, thấy bị cáo cải nhau với vợ chồng anh Sửu thì bị cáo Th (con rể bị cáo T) cũng đang bán hàng tại đây, cùng với bị cáo chửi bới lùa đuổi đánh anh S. Bị cáo dùng tay chân đánh anh S, còn bị cáo Th lấy chiếc cân đồng hồ trên xe hoa quả của anh S đập vào mặt đồng hồ xe máy anh S và ném cân vào người anh S, sau đó Th lấy tiếp đoạn gậy sắt anh S dùng để chống xe lùa đuổi và đánh anh S, một lúc sau đó thì bị cáo V ( con trai bị cáo) bán hàng cách đó khoảng 70 mét cầm dao chặt dừa chửa bới chạy lại chổ anh S chửi bới và định đánh anh S thì được mọi người can ngăn nên chưa gây thương tích gì cho anh Sửu.
Bị cáo Th khai nhận: Khi thấy mẹ vợ mâu thuẫn với anh S, bị cáo đã cùng mẹ vợ chửi bới lùa đánh anh S, bị cáo lấy cân đồng hồ bằng kim loại trên xe hoa quả anh S đập vào mặt đồng hồ xe máy anh S, ném cân vào người anh S, sau đó tiếp tục lấy chiếc gậy sắt anh Sửu dùng để chống xe hàng lùa và đánh anh S nhiều cái, một lúc sau có V là em vợ cầm dao chặt dừa chạy đến chửi bới anh S nhưng được mọi người can ngăn.
Bị cáo V khai nhận: Bị cáo bán dừa tại phố Bà Triệu Thị trấn Triệu Sơn, cách vì trí bán hàng của bị cáo T khoảng 70 mét, đang bán hàng thì nghe ồn áo và tưởng mẹ bị đánh nên cầm theo dao chặt dừa chạy lai chỗ anh S vừa chạy vừa chửi bới anh Sửu, khi gần đến nơi thì được mọi người can ngăn nên bị cáo chưa kịp gây thương tích gì cho anh S.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản hiện trường, các kết luận giám định, nội dung trích xuất Camera, Báo cáo của phố trưởng phố Bà Triệu, Công an thị trấn Triệu Sơn và các hộ dân bán hàng xung quang khu vực hiện trường, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận. Hành vị của các bị cáo Hà Văn Th, Hà Quang V và Hà Thị T đủ dấu hiệu cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 BLHS.
Về tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Đối với hành vi “Gây rối trật tự công cộng”
Do mâu thuẫn trong việc tranh chấp nơi bán hàng với anh Lê Doãn S, các bị cáo đã có hành vi chửi bới, lùa đuổi, đánh anh Lê Doãn S, bị cáo T dùng tay đánh anh S, bị cáo Th dùng cân đồng hồ bằng kim loại đập phá tài sản của anh S và ném cân cào người anh S, dùng gậy sắt lùa đánh anh S, bị cáo V cầm dao chạy trên quảng đường dài 70mét đe dọa, chửi bới anh S.
Như vây các bị cáo đã có hành vi vừa lùa đuổi vừa la hét, chửi bới làm náo loạn đường tỉnh lộ 516C, đoạn trước cổng Công ty giầy Sujnade, nơi khu vực chợ tự phát và có nhiều cửa hàng tạp hóa của các họ dân ven đường, đông người mua bán và các phương tiện qua lại, sự việc xay ra vào thời điểm đổi ca của công nhân trong công ty nên càng đồng người đi lại, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân hai bên đường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến anh ninh trật tự trên địa bàn.
Hành vi gây rối trật tự công cộng do nhiều người cùng thực hiện nên là đồng phạm nhưng đồng phải giản đơn, hành vi chỉ mang tính bột phát trong đó Hà Thị T và Hà Quang Th là người trược tiếp xô sát với anh S nhưng Hà Thị T chỉ có hành vi lùa đuổi, chửi bới và dùng tay đánh anh S nên chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 318 BLHS còn Hà Quang Th dùng gậy sắt lùa đuổi, chửi bới và đập phá tài sản và gây thương tích 03% cho anh S, Hà Quang V cũng cầm dao chạy trên quảng đường khoảng 70m, đông người qua lại, vừa chạy vừa chửi bới, đe dọa anh S, trước khi đến vị trí anh S thì được mọi người can ngăn nên không gây thương tích gì cho anh S, như vậy hai bị cáo đã có hành vi vừa dùng hung khí là gậy sắt, dao chặt dừa vừa chửi bới đe dọa và gây thương tích cho anh S 03% nên hai bị cáo Th, V phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS.
Trong đó bị cáo Th vừa có hành vi chửi bới, cầm gậy sắt lùa đuổi, đánh anh S là hành vi quyết liệt và nguy hiểm hơn nên phải chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo V.
Đối với hành vi gây thương tích: Bị cáo Th đã có hành vi vừa chửi bới, lùa đuổi và dùng cân đồng hồ bằng kim loại đập vở mặt nhựa đồng hồ xe máy, ném cân vào người anh S, dùng gậy sắt đánh anh S gây nên 0,3% tổn thương cơ thể cho anh S, nhưng quá trình điều tra, anh S đã rút đơn yêu cầu khởi tố nên cơ quan điều tra không xử lý hành vi gây thương tích là phù hợp.
Đối với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản: Bị cáo Th đã có hành vi dùng cân đồng hồ bằng kim loại đập vỡ mặt đồng hồ xe máy của anh S; Tuy nhiên giá trị tài sản bị hư hỏng qua định giá không đủ định lượng để xử lý hình sự và hành vi này cũng không thuộc các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm đ khoản 1 Điều 178 BLHS, nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo
+ Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.
+ Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến vụ án này một phần do anh Sửu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến gây sự trước với bị cáo T nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo Tuyết phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.
+ Nhân thân bị cáo: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, đều lần đầu vi phạm pháp luật, bị cáo Tuyết phạm tội ít nghiêm trọng.
Xét thấy các bị cáo đều phạm tội “Gây rối trất tự công cộng” quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 318 BLHS. Đối với bị cáo T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chỉ cần áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo, đối với bị cáo Th và bị cáo V với tình chất mức độ phạm tội của các bị cáo lẽ ra phải cách ly các bị cáo một thời gian nhất định nhưng xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, lần đầu vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nguyên nhân do anh S gây sự trước, chiếu cố cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương, việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người nhất thời phạm tội, ăn năn hối cải và không làm ảnh hưởng xấu đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung cũng như răn đe giáo dục bị cáo nói riêng.
Về xử lý vật chứng: Đối với con dao dài 37cm thu giữ của bị cáo Hà Quang V, bị cáo đã cầm con dao này chạy từ chỗ bán hàng cách hiện trường 70m, vừa chạy vừa chửi bới, đe dọa anh S, gây mất trật tự an ninh, khi được mọi người can ngăn nên không gây thương tích gì cho anh S, là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QuyÕt ®Þnh
Áp dung: khoản 1, Điều 318, điểm i , s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo Tuyết, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo Th và bị cáo Vũ, áp dụng Điều 65 cho cả ba bị cáo.
Tuyên bố: Các bị cáo Hà Văn Th, Hà Quang V và Hà Thị T phạm tội: “Gây rối trất tự công cộng”
Xử phạt: Bị cáo Hà Văn Th 30 (Ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo Hà Quang V 24 (hai bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo Hà Thị T 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thứ thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Hà Văn Th, Hà Quang V và Hà Thị T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục, gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 của Luật thi hành án hình sự.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, Điểm a khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333, 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 dao bằng kim loại dài 37cm, lưỡi dao dài 25cm (vật chứng có đặc điểm tại biên bản giao nhận vật chứng số46 ngày 27/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn)
Án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các bị cáo đều có mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đối với phần bàn án quyết định có liên quan. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT X Ử SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp Thanh Hóa; - VKSND huyện Triệu Sơn; - Công an huyện Triệu Sơn - Cổng TTĐT-TAND - CCTHADS huyện Triệu Sơn; - Bị cáo, người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Đình Hợp |