- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN KHÁNH PHẠM TỘI "TRỘM CẮP TÀI SẢN" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HSST Ngày 16/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh T
Ông Nguyễn Văn Th.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan A - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh H - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối với:
* Bị cáo: Nguyễn Văn Kh (tên gọi khác: không), sinh năm 1995; nơi cư trú: Xóm 5, thôn Mang H, xã Yên N, thị xã Duy T tỉnh Hà N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X và bà Lê Thị D; vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 28/9/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Duy T, tỉnh Hà N xử phạt 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; chấp hành án xong hình phạt và chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Ngày 16/11/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Phong Th, tỉnh Lai Ch xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Chấp hành án xong hình phạt và và đã được xóa án tích.
Bị bắt tạm giữ ngày 09/6/2023 chuyển tạm giam ngày 15/6/2023 đến nay; có mặt.
* Bị hại: Chị Phạm Thị H, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Thôn B, xã Phú Th, huyện Lạc Th, tỉnh Hòa B; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1995, trú tại xóm 5, thôn Mang H, xã Yên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà N, là công nhân làm việc tại xưởng FAB, bộ phận WET của Công ty TNHH Seoul Semiconductor Vina KCN Đồng Văn II tại tổ dân phố Văn Ph, phường Bạch Th, thị xã Duy T tỉnh Hà N.
Ngày 08/6/2023, Kh làm ca tại công ty trong khoảng thời gian từ 20h00' ngày 08/6/2023 đến 08h00' ngày 09/6/2023. Sau khi làm việc xong, đến 05h00' ngày 09/6/2023, Kh xin không tăng ca để về sớm rồi đi ra phòng để đồ ở tầng 2 lấy đồ cá nhân. Khi Kh đi vào dãy tủ bên phía tay phải thì nhìn thấy tủ đồ của chị Phạm Thị H, sinh năm 2003 trú tại thôn B, xã Phú Th, huyện Lạc Th, tỉnh Hòa B (làm cùng bộ phận xưởng FAB với Kh), tại ngăn tủ số 3, dãy 1A (từ trái sang phải) có ghi tên Phạm Thị H. Kh dùng chiếc chìa khóa tủ cá nhân của mình cho vào ổ khóa tủ của chị H thì mở được ổ khóa. Mở tủ ra, Kh nhìn thấy trong tủ có 01 chiếc túi xách màu đen và 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu xanh ngọc để bên ngoài túi xách. Kh dùng tay trái lấy chiếc điện thoại Iphone 11 cho vào túi quần bên trái phía trước đang mặc và dùng tay phải bấm khóa tủ lại. Sau đó Kh ra ngăn tủ đồ của mình lấy đồ cá nhân rồi ra ngoài quẹt thẻ chấm công đi về. Sau khi lấy trộm được chiếc điện thoại, Kh mang về nhà cất giấu. Chiếc chìa khóa tủ Kh vứt ở ven đường về nhà nhưng không nhớ ở đâu. Khoảng 05h50' ngày 09/6/2023, chị H ra tủ đồ lấy đồ cá nhân để ra về thì phát hiện bị mất chiếc điện thoại Iphone 11 nên đã báo bảo vệ Công ty. Qua tra soát camera của Công ty đã xác định Nguyễn Văn Kh là người đã lấy trộm chiếc điện thoại Iphone của chị H Chị H làm đơn trình báo Công an phường Bạch Th, thị xã Duy T giải quyết theo quy định của pháp luật. Đến khoảng 11h ngày 09/6/2023, Công an phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên triệu tập Nguyễn Văn Kh đến làm việc. Tại đây, Kh tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại Iphone 11 vỏ màu xanh ngọc, bên trong có 01 sim thuê bao số 0853596068, dung lượng 128GB, ốp nhựa màu đỏ.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu xanh, dung lượng 128GB, ốp bằng nhựa màu đỏ do Nguyễn Văn Kh tự nguyện giao nộp; 01 đoạn video được chứa trong đĩa DVD có thời lượng 01 phút 20 giây ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn Khtrộm cắp điện thoại của chị Phạm Thị H do Công ty TNHH Seoul Semiconductor Vina cung cấp. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy T đã tiến hành truy tìm vật chứng là chiếc chìa khóa mà Nguyễn Văn Kh dùng để mở tủ đồ cá nhân của chị Phạm Thị H nhưng không thấy.
Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL - HĐ ngày 12/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Duy Tiên kết luận: Chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu xanh, dung lượng 128GB có giá trị 8.500.000đ; 01 ốp bằng nhựa màu đỏ có giá trị 20.000đ; 01 sim số thuê bao 0853596068 có giá trị 0 đồng. Tổng cộng: 8.520.000đ.
Về trách nhiệm dân sự: Chị H đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu Khánh phải bồi thường gì.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Ngày 13/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã xử lý vật chứng trả lại chị Phạm Thị H chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu xanh ngọc, dung lượng 128GB, 01 ốp bằng nhựa màu đỏ và 01 sim số thuê bao 0853596068.
Đối với 01 đoạn video được chứa trong đĩa DVD có thời lượng 01 phút 20 giây ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn Kh trộm cắp điện thoại của chị Phạm Thị H được lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 24/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy T truy tố bị cáo Nguyễn Văn Kh về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Văn Kh từ 18(Mười tám) đến 24(Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09/6/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết và tuyên án phí đối với bị cáo.
Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Việc xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh tội phạm, ban hành các văn bản tố tụng đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 05h03' ngày 09/6/2023, tại xưởng FAB, bộ phận WET của công ty Công ty TNHH Seoul Semiconductor Vina KCN Đồng Văn II tại tổ dân phố Văn Ph, phường Bạch Th, thị xã Duy T, tỉnh Hà N, Nguyễn Văn Kh đã lén lút dùng chìa khóa tủ đồ cá nhân của mình mở ổ khóa tủ đồ cá nhân của chị Phạm Thị H để trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 11, vỏ màu xanh ngọc, bên ngoài lắp ốp bằng nhựa màu đỏ có tổng giá trị tài sản là 8.520.000đ, mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã có tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là: “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện giao nộp tài sản trộm cắp để trả cho bị hại. Do vậy, bị cáo được được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Từ nhận định trên, nhận thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, đã có tiền án chưa được xóa án tích, hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đên môi trường làm việc tại các khu công nghiệp. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian vừa đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp thực tế.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên HĐXX không đặt ra giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Văn Kh 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09/6/2023.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Công an thị xã Duy Tiên; - VKSND thị xã Duy Tiên; - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên; - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Đ |