vanban.org

Bản án 56/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Việt H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 1.

Tịch thu, tiêu hủy 01 áo dài tay màu xanh (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKS ngày 03/01/2023, Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 04/01/2023 giữa Công an thành phố Thủ Đức và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức) Tiếp tục lưu hồ sơ 01 đĩa CD ghi nhận hình ảnh vụ trộm cắp tà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Việt H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Việt H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 1.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HS-ST
Ngày: 21/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Chi

Ông Phạm Văn Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HS ngày tháng năm 2023 đối với bị cáo:

Trương Việt H: Sinh năm 1992 tại tỉnh G; Địa chỉ thường trú: Số A đường B, Tổ C, Khu vực D, phường E, thành phố F, tỉnh G; Nơi cư trú: Nhà số A, đường B, Khu phố C, phường D, thành phố E, Thành phố F; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Kim H, sinh năm 1956 và bà Dương Thị H (Chết); Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 08 tháng 10 năm 2022. (Có mặt)

Bị hại: Bà Nguyễn Thảo V, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Số A, đường B, Khu phố C, phường D, thành phố E, Thành phố F. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Huỳnh Thanh L, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Số A, đường B, phường C, thành phố D, Thành phố E. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ đầu tháng 09/2022, Trương Việt H làm bảo vệ tại khách sạn “Minh Sơn”, địa chỉ: đường A, khu phố B, phường C, thành phố D do chị Nguyễn Thảo V làm chủ. Trong quá trình làm việc, H biết khách sạn “Minh Sơn” đang trong quá trình xây dựng, sửa chữa có mua máy lạnh mới về để trong một phòng kho không khoá cửa, không có người trông coi nên H đã nảy sinh ý định lấy trộm máy lạnh bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 03 giờ ngày 06/10/2022, H đi vào phòng để vật tư trong khách sạn lén lút lấy tộm 01 máy lạnh hiệu SHARP Inverter 1 HP-X10ZW còn nguyên bao bì chưa qua sử dụng rồi đem đến cất giấu ở khu nghĩa trang cách khách sạn “Minh Sơn” khoảng 30 mét. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, H mượn 01 xe mô tô (không rõ biển số), của anh thợ hồ (không rõ lai lịch) đang làm việc tại công trình khách sạn nói đi mua đồ ăn sáng thì người này đồng ý. H điều khiển xe mô tô đến nghĩa trang lấy bộ máy lạnh đi tìm nơi bán. Khi đến cửa hàng “Điện lạnh Duy Tân”, địa chỉ số A đường B, phường C, thành phố D, H dừng xe nói với anh L1 (chủ cửa hàng) là H mới mua máy lạnh nhưng hiện không có nhu cầu sử dụng nữa nên cần bán lại, anh L1 thấy máy lạnh SHARP Inverter 1 HP-X10ZW còn mới nguyên hộp nên tin tưởng là của H và đã đồng ý mua với giá 4.000.000 đồng. Ngày 07/10/2022, chị Nguyễn Thảo V kiểm tra kho phát hiện bị mất trộm 01 bộ máy lạnh nên nghi vấn H là người chiếm đoạt. Chị V tìm H nói chuyện, sau đó H đã thừa nhận với chị V đã lấy trộm máy lạnh đem bán. Chị V đưa H đến Công an phường Bình Chiểu, thành phố Thủ Đức trình báo sự việc. H đã thừa nhận việc trộm cắp tài sản của chị V. Ngày 08/10/2022, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức lập Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trương Việt H về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Vật chứng: 01 máy lạnh SHARP Inverter 1 HP-X10ZW (gồm cục nóng nặng 19 kg số seri 26010789 và cục lạnh nặng 09 kg số seri 2101106, cả 02 cục nóng lạnh đều còn nguyên bao bì chưa qua sử dụng), ngày 13/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Thảo V là chủ sở hữu; 01 đĩa CD chứa video ghi nhận hình ảnh vụ trộm; 01 áo dài tay màu xanh của Trương Việt H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Kết luận định giá số 377-KLĐG-HĐĐGTS ngày 18/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Ðức kết luận: 01 máy lạnh SHARP Inverter 1 HP-X10ZW (gồm cục nóng và cục lạnh còn nguyên bao bì chưa qua sử dụng) của chị Nguyễn Thảo V có giá trị 7.393.000 đồng. Bản cáo trạng số 43/CT-VKSTPTĐ ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố Trương Việt H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trương Việt H về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự xử phạt Trương Việt H mức án từ 09 đến 12 tháng tù; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật; Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Chị Nguyễn Thảo V đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại; Anh Huỳnh Thanh L1 yêu cầu bồi thường số tiền 4.000.000 đồng.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 4.000.000 đồng cho anh Huỳnh Thanh L; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Việt H khai nhận khoảng 03 giờ ngày 06/10/2022, tại khách sạn “Minh Sơn”, địa chỉ: 201/8, đường Ngô Chí Quốc, khu phố 2, phường Bình Chiểu, thành phố Thủ Đức do chị Nguyễn Thảo V làm chủ đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy lạnh SHARP Inverter 1 HP-X10ZW trị giá 7.393.000 đồng rồi đưa đến cửa hàng “Điện lạnh Duy Tân” địa chỉ số 74 đường Bình Chiểu, phường Bình Chiểu, thành phố Thủ Đức, do anh Huỳnh Thanh L làm chủ để bán và lấy số tiền 4.000.000 đồng để tiêu xài thì bị phát hiện và bắt giữ. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn động cơ cá nhân, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Trương Việt H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và gây mất trật tự, an toàn xã hội cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật vì vậy, có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. [7] Về bồi thường thiệt hại: Chị Nguyễn Thảo V đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Anh Huỳnh Thanh L yêu cầu bồi thường số tiền 4.000.000 đồng, bị cáo Trương Việt H đồng ý bồi thường số tiền này cho anh Huỳnh Thanh L nên Hội đồng xét xử ghi nhận. [8] Về xử lý vật chứng: 01 máy lạnh SHARP Inverter 1 HP-X10ZW, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức đã trả lại cho chị Nguyễn Thảo V là chủ sở hữu là có căn cứ; 01 đĩa CD ghi nhận hình ảnh vụ trộm cắp tài sản tiếp tục lưu hồ sơ; 01 áo dài tay màu xanh không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy. [9] Về các vấn đề khác: Đối với anh thợ hồ (không rõ lai lịch) cho Trương Việt H mượn 01 xe mô tô (không rõ biển số) Công an thành phố Thủ Đức không có căn cứ xử lý hình sự là có cơ sở. [10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trương Việt H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Trương Việt H 01 (Một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2022. 2. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 589 của Bộ luật Dân sự: Buộc Trương Việt H bồi thường 4.000.000 (Bốn triệu) đồng cho anh Huỳnh Thanh L. 3. Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 01 áo dài tay màu xanh (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKS ngày 03/01/2023, Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 04/01/2023 giữa Công an thành phố Thủ Đức và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)

Tiếp tục lưu hồ sơ 01 đĩa CD ghi nhận hình ảnh vụ trộm cắp tài sản.

4. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Trương Việt H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ