vanban.org

Bản án 56/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 28/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên bố: Bị cáo Cù Minh Nghĩa phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Cù Minh Nghĩa 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cù Minh N TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
HUYỆN NINH HẢI
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HS-ST
Ngày: 28/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Minh Phấn và ông Trần Ngọc Tuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quý – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Ninh Hải - tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Bảo Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Ninh

Hải, tỉnh Ninh Thuận. Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HS ngày 14/12/2023 đối với bị cáo:

CÙ MINH NGHĨA, sinh năm: 1974 tại Khánh Hoà.

Nơi cư trú: Tổ dân phố Linh Phú, phường Cam Linh, TP Cam Ranh, tỉnh

Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cù Minh Châu (đã chết) và bà Lê Thị Hồng Hoa (đã chết); vợ tên Phùng Thị Xuân Thu – sinh năm: 1975; Bị cáo có 02 người con lớn nhất 29 tuổi, nhỏ nhất 19 tuổi.

Tiền án:

+ Bản án số 19/2014/HSST ngày 28/7/2014, Cù Minh Nghĩa bị Toà án nhân

dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản’;

+ Bản án số 07/2014/HSST ngày 28/8/2014, Cù Minh Nghĩa bị Toà án nhân

dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

+ Bản án số 30/2014/HSST ngày 24/9/2014, Cù Minh Nghĩa bị Toà án nhân

dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của cả 03 bản án này vào ngày

29/3/2019.

+ Bản án số 19/2014/HSST Ngày 27/9/2019 Toà án nhân dân huyện Hàm

Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt Cù Minh Nghĩa 02 năm tù về tội “trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 05/7/2021.

Đối với phần trách nhiệm dân sự của cả 04 bản án này bị cáo chưa thực

hiện xong.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/10/2023 đến ngày 11/10/2023 chuyển tạm

giam. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Ông Nguyễn Văn Nhung – sinh năm 1969. Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn Mỹ Tường 2, xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh

Thuận.

*Người làm chứng:

1. Ông Lê Văn Bình Tích - sinh năm 1973. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn Trà Sơn, xã Cam Phước Đông, thành phố Cam Ranh, tỉnh

Khánh Hòa.

2. Bà Nguyễn Thị Thi Thơ – sinh năm 1990. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Tổ dân phố Hòa Do 6A, phường Cam Phúc Bắc, thành phố Cam

Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 08/10/2023, bị cáo Cù Minh Nghĩa điều khiển xe mô tô biển số

79C1-245.84 đi từ tỉnh Ninh Thuận về thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đi theo tuyến đường 702. Khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi tới rẫy nhà ông Nguyễn Văn Nhung ở thôn Mỹ Hòa, xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, bị cáo dừng lại vào trong gặp nói chuyện với ông Nhung và tự giới thiệu mình đi thu mua ớt. Bị cáo xin số điện thoại của ông Nhung và được ông Nhung đồng ý cho. Sau khi xin số điện thoại xong bị cáo thấy ông Nhung để điện thoại vào túi quần lửng trên vách tường rồi đi bơm nước cho ớt nên đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại của ông Nhung. Để tránh ông Nhung chú ý, bị cáo ra lấy xe mô tô đi lòng vòng khoảng 15 phút rồi quay lại để xe ngoài đường 702 và đi bộ vào trong rẫy nhà ông Nhung. Thấy ông Nhung đang tưới ớt nên bị cáo lén lút đi đến lấy chiếc quần lửng, cuốn lại và đi ra ngoài đường thì bị ông Nhung phát hiện, tri hô và đuổi theo. Bị cáo chạy nhanh ra xe mô tô rồi lên xe nổ máy bỏ chạy. Ông Nhung lấy xe mô tô đuổi theo khoảng 01 km thì bắt được bị cáo cùng tang vật là chiếc quần lửng bên trong có 775.000 VNĐ, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 và 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng nên đã giao cho Công an xã Vĩnh Hải giải quyết.

Quá trình điều tra, bị cáo Cù Minh Nghĩa đã khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12 ngày 10/10/2023 của Hội đông định

giá hình sự huyện Ninh Hải kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A57 trị giá 2.593.000 đồng và tại Bản kết luận định giá tài sản số 13 ngày 08/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ninh Hải kết luận: Chiếc nhẫn vàng trị giá 7.735.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS-NH ngày 30/11/2023, Viện kiểm sát

nhân dân huyện Ninh Hải đã truy tố bị cáo Cù Minh Nghĩa về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải giữ nguyên

quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Cù Minh Nghĩa phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng: điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của

Bộ luật hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo từ 02 đến 03 năm tù.

Phần dân sự: Bị hại Nguyễn Văn Nhung đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm

cắp và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Xe mô tô biển số 79C1-245.84 mà bị cáo Cù Minh Nghĩa sử dụng làm

phương tiện phạm tội là của Nghĩa nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của

pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra.

Bị hại giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra, đề nghị xử lý bị cáo

theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với đề nghị của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Thời gian qua bị cáo đã thấy có lỗi và ân hận về

hành vi của mình, bị cáo xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện

Ninh Hải, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng là ông Lê Văn Bình Tích và bà

Nguyễn Thị Thi Thơ dù được triệu tập hợp lệ nhưng trong quá trình điều tra những người này đã có lời khai đầy đủ và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 293 của bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa: Bị cáo Cù Minh Nghĩa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm

tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có căn cứ để xác định: Lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản nên khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/10/2023, tại thôn Mỹ Hoà, xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận bị cáo Cù Minh Nghĩa đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 trị giá 2.593.000 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng trị giá 7.735.000 đồng và tiền mặt 775.000 đồng của ông Nguyễn Văn Nhung ở thôn Mỹ Tường 2, xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải. Tổng giá trị tài sản theo định giá bị cáo đã chiếm đoạt là 11.103.000 đồng. Do bị cáo đã bị kết án thuộc trường hợp tái phạm, chưa được xóa án tích nay lại cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến

quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn

khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhân thân xấu. Ngoài lần phạm tội này bị cáo đã bị đưa ra xét xử 04 lần đều liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Mặc dù quá trình điều tra xác định bị cáo chỉ có 02 tiền án nhưng căn cứ quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì trong 04 bản án bị cáo đã bị đưa ra xét xử bị cáo đều chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử xác định bị cáo có 04 tiền án.Việc xác định tiền án của bị cáo giữa nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát và của Hội đồng xét xử có khác nhau nhưng không ảnh hưởng đến nội dung của vụ án không ảnh hưởng đến khung hình phạt nên Toà án không tiến hành trả hồ sơ cho Viện kiểm sát.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị áp dụng đối với bị

cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại đã nhận đủ tài sản và

không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn

Nhung 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57; 01 chiếc nhẫn vàng; 775.000 VNĐ và 01 chiếc quần lửng là đúng theo quy định.

Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu cam – đen, biển kiểm soát

79C1-245.84 mà bị cáo Cù Minh Nghĩa sử dụng làm phương tiện phạm tội qua điều tra, xác minh xác định được là tài sản của bị cáo nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật

hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án

1. Tuyên bố: Bị cáo Cù Minh Nghĩa phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Bị cáo Cù Minh Nghĩa 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời

hạn tù tính từ ngày 08/10/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô

nhãn hiệu Honda Wave RSX màu cam – đen, biển kiểm soát 79C1-245.84 theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Ninh Hải và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình

sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại -

quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/12/2023).

Cỡ chữ