vanban.org

Bản án 56/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 19/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng S 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Làm giải con dấu, tài liệu cảu cơ quan - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ q…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HS-ST
Ngày: 19 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc và bà Lê Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng S, sinh năm 1998 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Bùi Thị Thùy L và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 18 ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969, trú tại: thôn T, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Ông Trần Văn D; vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Vũ Mạnh C; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 15/3/2023, Nguyễn Hồng S nảy sinh ý định làm giả giấy khám sức khỏe của Bệnh viện Bạch Mai, thành phố Hà Nội để bán thu lời bất chính. S sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim số thuê bao 0378.170.198 tìm hiểu mẫu Giấy khám sức khỏe, chức danh bác sĩ, chữ ký, mẫu dấu, hình dấu có trên Giấy khám sức khỏe của Bệnh viện Bạch Mai được đăng trên mạng Internet. S tải mẫu Giấy khám sức khỏe dùng cho người từ đủ 18 tuổi trở lên theo Thông tư số 14/2013/TT-BYT ngày 06/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế từ trên mạng Internet về điện thoại rồi đến cửa hàng phô tô ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội (không nhớ rõ địa chỉ) in ra 45 tờ Giấy khám sức khỏe mẫu trên giấy A3 với giá tiền 50.000 (năm mươi nghìn) đồng, do có 02 tờ bị nhàu nên Sơn đã xé bỏ đi. Trong thời gian này, S liên hệ qua mạng xã hội Facebook của một người (không rõ nhân thân, lai lịch) đặt làm giả 03 cán dấu bằng nhựa, 13 mặt dấu bằng cao su kèm theo 02 hộp mực màu đỏ và màu xanh với giá 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng. Các mặt dấu và con dấu gồm: con dấu hình tròn có 01 cán dấu hình tròn, 01 mặt chữ hình tròn màu đỏ có chữ “BỆNH VIỆN BẠCH MAI”; 02 cán dấu hình chữ nhật kèm theo 12 mặt chữ có nội dung “Bs CK Trần Thúy Hiền”, “Bs Nguyễn Minh Thủy”, “TS.Bs Nguyễn Duy Nhạn”, “Ths.Bs Nguyễn Duy Bình”; “BS CKI Vũ Ngọc Anh”; “BS CKI Vũ Thanh Hoa”; “BÌNH THƯỜNG”, “ĐỦ SỨC KHỎE ĐỂ HỌC TẬP CÔNG TÁC”, “ĐÃ THU TIỀN Ngày…tháng…năm 20…”, “ÂM TÍNH”, “HÌNH TIM PHỔI BÌNH THƯỜNG”, “PGS.TS.Đào Xuân Cơ”. Sau khi nhận được các cán dấu, con dấu, mẫu dấu giả và mực dấu do người bán chuyển đến nhà qua hệ thống chuyển phát nhanh, ngày 20/3/2023 S tự đóng các dấu vào 43 tờ Giấy khám sức khỏe đã in ra, tương tự như Giấy khám sức khỏe mà S đã tìm hiểu trên mạng Internet, đến vị trí nào thì S tự thay mặt chữ và mực dấu tương ứng. S đăng lên tài khoản Facebook cá nhân của mình có tên Nguyễn Hồng S với nội dung “Ai cần mua giấy khám sức khỏe thì liên hệ đến số điện thoại 0378.170.198”

Ngày 05/4/2023, có một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản Facebook Đỗ Tùng Linh và số điện thoại 0364.308.277 liên hệ với Sơn hỏi mua 06 tờ Giấy khám sức khỏe cho bản thân và bạn bè để làm hồ sơ xin việc, Sơn đồng ý bán với giá 150.000đồng/tờ, tổng 06 tờ là 900.000đồng, cả hai hẹn giao dịch vào ngày 06/4/2023 tại thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam. S tự ký giả chữ ký của bác sĩ tương ứng với các dấu chức danh đã đóng từ trước vào 06 tờ Giấy khám sức khỏe. Khoảng 19 giờ ngày 06/4/2023, Sơn để 06 tờ Giấy khám sức khỏe đã làm giả vào trong cốp xe mô tô BKS: 90B3 - 157.05 mang đến chỗ hẹn để bán. Khi đi đến trục đường Đ thuộc tổ dân phố C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam thì bị Tổ công tác của Công an huyện Lý Nhân phối hợp với Công an thị trấn V làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện Nguyễn Hồng S có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu giữ của Nguyễn Hồng S: 06 tờ Giấy khám sức khỏe, loại giấy A3, tại phần nội dung đều có 08 chữ ký, 08 dấu chức danh, tại phần người kết luận có chữ ký, dấu chức danh PGS.TS. Đào Xuân Cơ và hình dấu tròn màu đỏ có chữ “BỆNH VIỆN BẠCH MAI”, không có ngày khám, không có ảnh, không ghi thông tin người đề nghị khám sức khỏe (được niêm phong trong phong bì ký hiệu VV01); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (được niêm phong trong phong bì ký hiệu VV02) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade BKS: 90B3 - 157.05. Tại chỗ S khai 06 tờ Giấy khám sức khỏe trên là Giấy khám sức khỏe giả, S đang mang đi bán kiếm lời thì bị bắt quả tang.

Ngày 06/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện L thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hồng S tại thôn T, xã C, huyện L. Kết quả khám xét đã phát hiện thu giữ: Thu tại nắp bể nước tầng hai 37 tờ Giấy khám sức khoẻ, loại giấy A3 đều có chữ “BỆNH VIỆN BẠCH MAI” phía trên góc trái, để trống thời gian, không có thông tin người đề nghị khám sức khoẻ, tại phần nội dung khám đều có dấu dập hình chữ nhật, tại phần người kết luận đều có hình dấu tròn màu đỏ có chữ: “BỆNH VIỆN BẠCH MAI” và dập chữ PGS.TS Đào Xuân Cơ màu đỏ, có một hình dấu chữ nhật màu xanh có dòng chữ: “ĐỦ SỨC KHỎE ĐỂ HỌC TẬP CÔNG TÁC”, có một hình dấu chữ nhật màu đỏ có dòng chữ: “ĐÃ THU TIỀN Ngày… tháng … năm 20…”, có hai hình dấu chữ nhật màu đỏ có dòng chữ: “ÂM TÍNH”; có một hình dấu chức danh màu đỏ có dòng chữ PGS.TS. Đào Xuân Cơ; trong 37 tờ Giấy khám sức khỏe trên thì 19 tờ có hình dấu chữ nhật màu đỏ có dòng chữ: “HÌNH TIM PHỔI BÌNH THƯỜNG” và 18 tờ không có hình dấu chữ nhật màu đỏ có dòng chữ: “HÌNH TIM PHỔI BÌNH THƯỜNG” (niêm phong trong túi giấy ký hiệu KX01); Thu tại mặt bàn gác xép tầng hai 01 tờ Quyết định về việc cho phép sinh viên được bảo vệ đồ án tốt nghiệp số 347/QĐBV-MĐC ngày 18/11/2022 của trường Đại học M, mặt sau có đóng hai dấu hình chữ nhật và nhiều dấu họ tên, chức vụ, học hàm học vị bằng mực màu đỏ và màu xanh (niêm phong trong phong bì ký hiệu KX02); 01 cán dấu hình tròn bằng nhựa không có mặt dấu tại phần tay cầm của con dấu có hình dấu màu đỏ ghi dòng chữ “Bộ y tế”; Thu tại góc vườn 11 mặt dấu cao su, mỗi mặt dấu tương ứng với 01 nội dung: BS.Nguyễn Minh Thủy; BS CKI Vũ Ngọc Anh; BS CKI Vũ Thanh Hoa; TS BS Nguyễn Duy Nhạn; BSCK Trần Thúy Hiền; TS BS Nguyễn Duy Bính; PGS TS Đào Xuân Cơ; ĐÃ THU TIỀN Ngày….tháng….năm 20..; ĐỦ SỨC KHỎE ĐỂ HỌC TẬP CÔNG TÁC; BÌNH THƯỜNG; ÂM TÍNH (được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX03).

Nguyễn Hồng S khai: 02 cán dấu hình chữ nhật; 01 mặt dấu hình tròn có dòng chữ “BỆNH VIỆN BẠCH MAI”; 01 mặt dấu hình chữ nhật có dòng chữ “HÌNH TIM PHỔI BÌNH THƯỜNG”, S đã vứt đi, không nhớ vị trí nên không thu giữ được.

Tài liệu điều tra xác định:

Bệnh viện Bạch Mai chỉ có bác sĩ Đào Xuân Cơ và Nguyễn Duy Nhạn đang công tác, những người khác có tên như trong Giấy khám sức khỏe thu của Nguyễn Hồng Sơn thì không có ai là bác sĩ công tác tại Bệnh viện Bạch Mai. Đồng thời Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Bạch Mai không sử dụng mẫu dấu: ĐÃ THU TIỀN Ngày….tháng….năm 20….; ĐỦ SỨC KHỎE ĐỂ HỌC TẬP CÔNG TÁC; BÌNH THƯỜNG; ÂM TÍNH; HÌNH TIM PHỔI BÌNH THƯỜNG. Cơ quan CSĐT - Công an huyện L đã thu thập mẫu dấu; chữ ký bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai; chữ ký do Nguyễn Hồng S ký giả chữ ký các bác sĩ để phục vụ công tác giám định.

01 tờ Quyết định về việc cho phép sinh viên được bảo vệ đồ án tốt nghiệp số 347/QĐBV-MĐC ngày 18/11/2022 của trường Đại học M là Quyết định của Trường Đại học M cấp cho Nguyễn Hồng S.

Ngày 27/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam giám định các dấu, chữ ký trên 43 tờ giấy khám sức khỏe đã thu giữ của Nguyễn Hồng S.

Tại bản kết luận số 290/KL-KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Hình dấu tròn có nội dung “BỆNH VIỆN BẠCH MAI” trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A43 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Hình dấu chức danh có nội dung “PGS.TS.Đào Xuân Cơ” dưới mục “NGƯỜI KẾT LUẬN” trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A6 so với hình dấu chức danh có nội dung “GIÁM ĐỐC - PGS.TS.BS. Đào Xuân Cơ” trên mẫu so sánh ký hiệu M2 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Hình dấu chức danh có nội dung “TS.Bs.Nguyễn Duy Nhạn” dưới mục “Họ tên, chữ ký của Bác sỹ” trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A6 so với hình dấu chức danh có nội dung “Th.Bs Nguyễn Duy Nhạn” trên mẫu so sánh ký hiệu M3 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Chữ ký đứng tên PGS.TS.Đào Xuân Cơ và TS.Bs.Nguyễn Duy Nhạn dưới mục “NGƯỜI KẾT LUẬN” và “Họ tên, chữ ký của Bác sỹ” trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A6 so với chữ ký của Nguyễn Hồng S trên mẫu so sánh ký hiệu M4 đến M9 do cùng một người ký ra”

Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSLN ngày 21/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân đã truy tố Nguyễn Hồng Sơn về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Hồng S phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan”; áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm. Bị cáo có điều kiện hoàn cảnh và kinh tế gia đình khó khăn, không có công việc ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Đồng thời đề xuất tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 43 tờ giấy khám sức khỏe giả, 01 tờ Quyết định về việc cho phép sinh viên được bảo vệ đồ án tốt nghiệp số 347/QĐBV-MĐC ngày 18/11/2022 của trường Đại học M tịch thu tiêu hủy các cán dấu, mặt chữ mà bị cáo đã làm giả và tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone của Nguyễn Hồng S, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Hồng S khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý nhân đã truy tố; không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt và xin được hưởng án treo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H xác định chiếc xe mô tô BKS 90B3 - 157.05 là tài sản hợp pháp của ông, ông H không biết bị cáo sử dụng xe để đi bán Giấy khám sức khỏe giả. Ông H đã được nhận lại xe mô tô tại cơ quan điều tra và không có yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, khách quan.

[2] Đối với những người tham gia tố tụng là người làm chứng và người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đủ lời khai của họ, được Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Với mục đích làm giả Giấy khám sức khỏe của Bệnh viện Bạch Mai để bán thu lời bất chính nên ngày 15/3/2023 Nguyễn Hồng S sử dụng điện thoại di động vào mạng Internet tải về và in ra 43 tờ mẫu Giấy khám sức khỏe theo Thông tư số 14/2013/TT-BYT ngày 06/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế. S đặt làm giả 01 con dấu tròn (cán dấu, mặt chữ) của Bệnh viện Bạch Mai, 02 cán dấu hình chữ nhật, 12 mặt chữ về tự đóng dấu giả, ký giả chữ ký bác sĩ để làm giả 43 tờ Giấy khám sức khỏe của Bệnh viện Bạch Mai. Đến ngày 06/4/2023, S bỏ 06 tờ Giấy khám sức khỏe giả vào trong cốp xe mô tô BKS 90B3 - 157.05 mang đi bán cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 150.000đồng/tờ, khi đi đến địa phận tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam thì bị tổ công tác của Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn V phát hiện bắt quả tang, lập biên bản vụ việc.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hồng S đã phạm vào tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Ngay sau khi bị bắt và trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Nguyễn Hồng S đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời thể hiện rõ sự ăn năn hối cải về việc mình đã gây ra, mong muốn được sửa chữa lỗi lầm; bị cáo có vợ đang mang thai tuần thứ 28, mẹ mắc bệnh tâm thần, bố tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975 đã phục viên xuất ngũ, ông nội là ông Nguyễn Văn B hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, bản thân bị cáo có hoàn cảnh gia đình và kinh tế khó khăn, là lao động chính trong gia đình và đang nuôi con nhỏ; khi xã C, huyện L bùng phát dịch Covid -19 và phải thực hiện giãn cách xã hội, bị cáo cùng gia đình trực tiếp tham gia vào tổ Covid cộng đồng, tích cực quyên góp, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân - được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hồng S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, bình thường của cơ quan nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng riêng và phòng ngừa chung.

Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội, Giấy chứng nhận sức khỏe mà bị cáo làm giả chưa phát tán ra cộng đồng; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo là người lao động luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật và quy định của địa phương, không có biểu hiện vi phạm pháp luật mới, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Đây cũng là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, có nhân thân và hoàn cảnh như bị cáo, như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nhưng vẫn đảm bảo đúng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Tạo cơ hội cho bị cáo tự rèn luyện, tạo điều kiện cho bị cáo trong việc chăm sóc con nhỏ, vợ đang mang thai và mẹ bị bệnh tâm thần, để bị cáo thấy được chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản và thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 43 tờ Giấy khám sức khỏe trong đó có 06 tờ Giấy khám sức khỏe, loại giấy A3 trên có hình dấu tròn màu đỏ của Bệnh viện Bạch Mai, không có ngày khám, không có ảnh, không ghi thông tin người đề nghị khám sức khỏe và 37 tờ Giấy khám sức khoẻ, loại giấy A3 đều để trống thời gian, không có thông tin người đề nghị khám sức khoẻ và đều có hình dấu tròn màu đỏ có dòng chữ: “BỆNH VIỆN BẠCH MAI”, có một hình dấu chữ nhật màu xanh có dòng chữ: “ĐỦ SỨC KHỎE ĐỂ HỌC TẬP CÔNG TÁC”, có một hình dấu chữ nhật màu đỏ có dòng chữ: “ĐÃ THU TIỀN Ngày… tháng … năm 20…”, có hai hình dấu chữ nhật màu đỏ có dòng chữ: “ÂM TÍNH”; có một hình dấu chức danh màu đỏ có dòng chữ PGS.TS. Đào Xuân Cơ, 19 tờ có hình dấu chữ nhật màu đỏ có dòng chữ: “HÌNH TIM PHỔI BÌNH THƯỜNG”, 18 tờ không có hình dấu chữ nhật màu đỏ có dòng chữ: “HÌNH TIM PHỔI BÌNH THƯỜNG”. Đây là những tài liệu giả liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 tờ Quyết định về việc cho phép sinh viên được bảo vệ đồ án tốt nghiệp số 347/QĐBV-MĐC ngày 18/11/2022 của trường Đại học M cấp cho bị cáo không phải là tài liệu giả, bị cáo không có yêu cầu nhận lại đã lưu theo hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade BKS: 90B3 - 157.05 là tài sản hợp pháp của ông H, bị cáo mượn xe và ông H không biết bị cáo điều khiển xe đi bán Giấy khám sức khỏe giả nên cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H là phù hợp.

Đối với 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo sử dụng liên lạc thực hiện hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 cán dấu hình tròn bằng nhựa không có mặt dấu, tại phần tay cầm có hình dấu màu đỏ ghi dòng chữ “BỘ Y TẾ”; 11 mặt dấu cao su, mỗi mặt dấu tương ứng với 01 nội dung: BS.Nguyễn Minh Thủy; BS CKI Vũ Ngọc Anh; BS CKI Vũ Thanh Hoa; TS BS Nguyễn Duy Nhạn; BSCK Trần Thúy Hiền; TS BS Nguyễn Duy Bính; PGS TS Đào Xuân Cơ; ĐÃ THU TIỀN Ngày….tháng….năm 20..; ĐỦ SỨC KHỎE ĐỂ HỌC TẬP CÔNG TÁC; BÌNH THƯỜNG; ÂM TÍNH là con dấu, mặt dấu giả, là công cụ Nguyễn Hồng Sơn sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác: Đối với những người mà Nguyễn Hồng S làm con dấu, mặt chữ; giao con dấu, mặt chữ, thu tiền và người đang giao dịch mua giấy khám sức khỏe giả của Sơn, do chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo và thông tin về đối tượng không đầy đủ nên cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xác minh, xử lý trong vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng S 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hồng S cho Uỷ ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Lưu theo hồ sơ vụ án:

+ 43 (Bốn mươi ba) tờ Giấy khám sức khỏe giả (trong đó có 06 tờ Giấy khám sức khỏe, loại giấy A3 trên có hình dấu tròn màu đỏ của Bệnh viện Bạch Mai, không có ngày khám, không có ảnh, không ghi thông tin người đề nghị khám sức khỏe và 37 tờ Giấy khám sức khoẻ, loại giấy A3 đều để trống thời gian, không có thông tin người đề nghị khám sức khoẻ và đều có hình dấu tròn màu đỏ có dòng chữ: “BỆNH VIỆN BẠCH MAI”, có một hình dấu chữ nhật màu xanh có dòng chữ: “ĐỦ SỨC KHỎE ĐỂ HỌC TẬP CÔNG TÁC”, có một hình dấu chữ nhật màu đỏ có dòng chữ: “ĐÃ THU TIỀN Ngày… tháng … năm 20…”, có hai hình dấu chữ nhật màu đỏ có dòng chữ: “ÂM TÍNH”; có một hình dấu chức danh màu đỏ có dòng chữ PGS.TS. Đào Xuân Cơ, 19 tờ có hình dấu chữ nhật màu đỏ có dòng chữ: “HÌNH TIM PHỔI BÌNH THƯỜNG”, 18 tờ không có hình dấu chữ nhật màu đỏ có dòng chữ: “HÌNH TIM PHỔI BÌNH THƯỜNG”).

+ 01 tờ Quyết định về việc cho phép sinh viên được bảo vệ đồ án tốt nghiệp số 347/QĐBV-MĐC ngày 18/11/2022 của trường Đại học M.

- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 cán dấu hình tròn bằng nhựa không có mặt dấu, tại phần tay cầm có hình dấu màu đỏ ghi dòng chữ BỘ Y TẾ; 11 mặt dấu cao su, mỗi mặt dấu tương ứng với 01 nội dung: BS.Nguyễn Minh Thủy; BS CKI Vũ Ngọc Anh; BS CKI Vũ Thanh Hoa; TS BS Nguyễn Duy Nhạn; BSCK Trần Thúy Hiền; TS BS Nguyễn Duy Bính; PGS TS Đào Xuân Cơ; ĐÃ THU TIỀN Ngày….tháng….năm 20..; ĐỦ SỨC KHỎE ĐỂ HỌC TẬP CÔNG TÁC; BÌNH THƯỜNG; ÂM TÍNH.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone, vỏ màu trắng, đã qua sử dụng, có số IMEI I: 357349092445204 có lắp 01 sim điện thoại số 0378.170.198 của Nguyễn Hồng S.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lý Nhân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân ngày 22/8/2023)

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hồng S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ