vanban.org

Bản án 56/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 19/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngân Bá N phạm tội “Trộm cắp tài sản’’.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận gia đình bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 1.000.000 đồng. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự: Bộ máy phun thuốc sâu (gồm: 01 mô tơ đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngân Bá N phạm tội “Trộm cắp tài sản’’.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HS-ST
Ngày: 19/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tịnh và bà Hoàng Thị Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Là Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Niê Đoan Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2023/HSST, ngày 31 tháng 8 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đối với bị cáo:

Ngân Bá N, sinh ngày: 21/6/2002; tại tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Ngân Bá P (đã chết) và bà Trần Thị N, sinh năm 1971; trú: thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn được áp dụng: Bị bắt tạm giữ từ ngày 16/6/2023 đến ngày 25/6/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông; có mặt.

Bị hại:

- Ông Phan Văn T, sinh năm 1972; địa chỉ: Khu phố G, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; vắng mặt.

- Phạm Văn T, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, Tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Phan Văn Nguyên A, sinh năm 2009 (Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn Nhật); địa chỉ: Thôn S, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 và anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, Tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

- Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, Tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

- Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 2009 (Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hồng H); địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

- Anh Nguyễn Khắc H, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chơi Game, không có tiền tiêu xài cá nhân nên từ ngày 30/5/2023 đến ngày 16/6/2023, Ngân Bá N đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/5/2023, Ngân Bá N và Phan Văn Nguyên A đang chơi Game tại quán Internet “GG” tại Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông, do chị Nguyễn Thị Th làm chủ, thì N rủ A đi đến nhà ông Phạm Văn T là nơi gia đình N đang ở nhờ trộm cắp tài sản thì A đồng ý. Phan Văn Nguyên A mượn Nguyễn Thanh H xe mô tô biển kiểm soát 47P8 - 8443 (xe của ông Nguyễn Khắc H là anh rể của H) chở N về nhà ông Phạm Văn T lấy 01 bộ máy phun thuốc sâu (gồm: 01 mô tơ động cơ không đồng bộ 1 pha, màu xanh, nhãn hiệu Hoàng Anh, 3HP, 2,2KW; 01 máy phun thuốc sâu nhãn hiệu KYOTO, KT-28Y, màu xanh bơ được gắn lên đế kéo màu xanh có 02 bánh xe) rồi chở đến quán Internet “GG” cất giấu rồi tiếp tục chơi Game.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 04 giờ ngày 31/5/2023, trong lúc đang chơi Game tại quán Internet “GG”, Ngân Bá N tiếp tục rủ Phan Văn Nguyên A về nhà ông Phạm Văn T trộm cắp tài sản thì A đồng ý. A mượn xe mô tô biển kiểm soát 47P8 - 8443 của Nguyễn Thanh H rồi chở N về nhà ông T lấy 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu RHIN/AMG màu cam - trắng rồi A chở N về nhà Nguyễn Thanh H tại thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông cất giấu (H không biết việc A và N giấu máy cắt cỏ tại nhà mình), sau đó N và A tiếp tục đến tiệm Internet “GG” chơi Game. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, N bán bộ máy phun thuốc sâu (gồm: 01 mô tơ động cơ không đồng bộ 1 pha, màu xanh, nhãn hiệu Hoàng Anh, 3HP, 2,2KW; 01 máy phun thuốc sâu nhãn hiệu KYOTO, KT-28Y, màu xanh bơ được gắn lên đế kéo màu xanh có 02 bánh xe) cho chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Thành T được 1.900.000 đồng, N trả nợ chị Th 900.000 đồng, còn N cất giữ 1.000.000 đồng (khi mua chị Th và anh T không biết tài sản do N và A trộm cắp mà có). Sau đó, N cùng A bán máy cắt cỏ cho cửa hàng Nông Cơ “Anh Đ” tại thôn H, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông (do anh Ngô Văn Đ làm chủ) được 400.000 đồng, sau đó N và A đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ ba: Vào khoảng 01 giờ ngày 16/6/2023, trong lúc đang chơi Game tại quán Internet “GG”, Ngân Bá N rủ Phan Văn Nguyên A đến nhà ông Phạm Văn T để trộm cắp tài sản thì A đồng ý. A mượn xe mô tô biển kiểm soát 47P8 - 8443 của Nguyễn Thanh H rồi chở N về nhà ông T

lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda City 100, màu đen - đỏ, biển kiểm soát 51R1

- 3471 (xe của ông Phan Văn T gửi ở nhà ông Tới) nổ máy điều khiển xe cùng An đến nhà Nguyễn Thanh H ngủ. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Nam điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51R1 - 3471, An điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47P8 - 8443 đến xã Trúc Sơn, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông để bán xe mô tô biển kiểm soát 51R1-3471 thì bị lực lượng Công an xã Trúc Sơn phát hiện và chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Tại Cơ quan điều tra, Ngân Bá N và Phan Văn Nguyên A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng đã thu giữ: Bộ máy phun thuốc sâu (gồm: 01 mô tơ động cơ không đồng bộ 1 pha, màu xanh, nhãn hiệu Hoàng Anh, 3HP, 2,2KW; 01 máy phun thuốc sâu nhãn hiệu KYOTO, KT-28Y, màu xanh bơ được gắn lên đế kéo màu xanh có 02 bánh xe; 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu RHIN//AMG, màu cam, trắng; xe mô tô nhãn hiệu MICAX, màu nâu, biển kiểm soát 47P8 - 8443; xe mô tô nhãn hiệu Honda City 100, màu đen - đỏ, biển kiểm soát 51R1-3471.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐGTS, ngày 23/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda City 100, màu đen - đỏ, biển kiểm soát 51R1-3471, có giá trị là 2.000.000 đồng; 01 bộ máy phun thuốc sâu (gồm: 01 mô tơ động cơ không đồng bộ 1 pha, màu xanh, nhãn hiệu Hoàng Anh, 3HP, 2,2KW; 01 máy phun thuốc sâu màu xanh bơ, nhãn hiệu KYOTO, KT-28Y được gắn lên khung sắt màu xanh có 02 bánh xe, có giá trị là 3.000.000 đồng; máy cắt cỏ nhãn hiệu RHIN/AMG màu cam, trắng, có giá trị là 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 6.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 65/Ctr-VKS ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố bị cáo Ngân Bá N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Ngân Bá N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan. Bị cáo không bào chữa, không tranh luận, chỉ xin Tòa án xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích tính chất vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tỉnh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ngân Bá N và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngân Bá N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Ngân Bá N từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã thu giữ sau đó trả lại: bộ máy phun thuốc sâu (gồm: 01 mô tơ động cơ không đồng bộ 1 pha, màu xanh, nhãn hiệu Hoàng Anh, 3HP, 2,2KW; 01 máy phun thuốc sâu nhãn hiệu KYOTO, KT-28Y, màu xanh bơ được gắn lên đế kéo màu xanh có 02 bánh xe); 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu RHIN/AMG, màu cam - trắng; xe mô tô nhãn hiệu MICAX, màu nâu, biển kiểm soát 47P8 - 8443, cho các chủ sở hữu hợp pháp.

+ Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda City 100, màu đen - đỏ, biển kiểm soát 51R1-3471, quá trình điều tra chưa xác định được nguồn gốc của xe, không có số khung, số máy, không có giấy đăng kí xe. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil tiếp tục tạm giữ để điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho ông Phạm Văn T 1.000.000 đồng. Bị hại ông Phạm Văn T, ông Phan Văn T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Th, anh Nguyễn Thành T và anh Ngô Văn Đ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề nghị.

Tại phiên tòa bị cáo cho rằng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo Ngân Bá N về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ và hoàn toàn đồng ý với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; lời khai của bị cáo; lời khai của người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngân Bá N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc theo bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo liên tục hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình ông Phạm Văn T, có tính chất liên tục, liên tiếp nhau về mặt thời gian: Lần thứ nhất: Vào khoảng 20h00’ ngày 30/5/2023, tại nhà ông Phạm Văn T, Ngân Bá N đã trộm cắp 01 bộ máy phun thuốc trừ sâu, trị giá 3.000.000 đồng; lần thứ hai: Vào khoảng 04h00’ ngày 31/5/2023, Ngân Bá N tiếp tục trộm cắp 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Rhin/AMG trị giá 1.000.000 đồng. Tiếp tục vào khoản 01 giờ 00 phút, tại nhà ông Phạm Văn T, Ngân Bá N đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Citi màu đen - đỏ biển kiểm soát 51R1-3471 do ông Phan Văn T gửi nhờ, tài sản trộm cắp trị giá 2.000.000 đồng, tổng cộng bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của ông Tới trị giá 4.000.000 đồng, chiếm đoạt tài sản của ông Tiến trị giá 2.000.000 đồng.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Ngân Bá N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là tội phạm ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là công dân có nhận thức pháp luật để biết được quyền tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, nhưng mê chơi Game, vì lười lao động muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lén lút vào nhà ông Phạm Văn T để trộm cắp tài sản ba lần với tổng số tiền 6.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền tài sản của người khác, mà còn gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, do đó, cần buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục, răn đe bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 1.000.000 đồng, bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. tính răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường số tiền 1.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu gì thêm. Xét việc thỏa thuận bồi thường là phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận. “

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 46, khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã trả lại bộ máy phun thuốc sâu (gồm: 01 mô tơ động cơ không đồng bộ 1 pha, màu xanh, nhãn hiệu Hoàng Anh, 3HP, 2,2KW; 01 máy phun thuốc sâu nhãn hiệu KYOTO, KT-28Y, màu xanh bơ được gắn lên đế kéo màu xanh có 02 bánh xe); 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu RHIN/AMG, màu cam - trắng; xe mô tô nhãn hiệu MICAX, màu nâu, biển kiểm soát 47P8 – 8443 cho ông Phạm Văn T là phù hợp nên cần chấp nhận.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda City 100, màu đen - đỏ, biển số 51R1-3471, quá trình điều tra chưa xác định được nguồn gốc của xe, không có số khung, số máy, không có giấy đăng kí xe. Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil tiếp tục tạm giữ để điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí hình sự: Bị cáo bị kết án là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vấn đề khác: Đối với Phan Văn Nguyên A cùng bị cáo Nam thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới 14 tuổi 03 tháng 25 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên chấp nhận không xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã chuyển Cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Đối với Nguyễn Thanh H không biết Ngân Bá N và Phan Văn Nguyên A sử dụng xe mô tô biển số 47P8 - 8443 vào việc phạm tội; không biết bị cáo Nam và An cất giấu máy cắt cỏ tại nhà mình nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận. Tuy nhiên mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù là cao so với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Ngân Bá N phạm tội “Trộm cắp tài sản’’.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Ngân Bá N 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 16/6/2023).

2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận gia đình bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 1.000.000 đồng.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự: Bộ máy phun thuốc sâu (gồm: 01 mô tơ động cơ không đồng bộ 1 pha, màu xanh, nhãn hiệu Hoàng Anh, 3HP, 2,2KW; 01 máy phun thuốc sâu nhãn hiệu KYOTO, KT-28Y, màu xanh bơ được gắn lên đế kéo màu xanh có 02 bánh xe); 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu RHIN/AMG, màu cam - trắng; xe mô tô nhãn hiệu MICAX, màu nâu, biển kiểm soát 47P8 - 8443 cho ông Phạm Văn T.

4. Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Ngân Bá N phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ