- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thanh T và đồng phạm "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HS-PT Ngày: 11-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thị Phượng
Ông Dương Ngọc Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 49/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo Hoàng Thanh T và Lại Văn G. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
- Bị cáo bị kháng nghị:
1. Hoàng Thanh T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1993 tại Long An. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp 1, xã MT, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Th, sinh năm 1956 và bà Hoàng Thị Ph, sinh năm 1958; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28-9-2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Lại Văn G, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1981 tại Long An. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp 1, xã MT, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Văn Y (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1953; vợ Lê Thị E, sinh năm 1982, có 02 người con sinh năm 2012 và sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28-9-2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, không triệu tập:
- Người bị hại: Bà Hoàng Thị Loan Ph, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp 1, xã MT, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp 1, xã MT, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 27-9-2022, biết chị ruột (chị P1) đi làm không có nhà, khi thấy xe mô tô hiệu Honda, loại Future FI, biển số 62S1-347.09 có cắm sẵn chìa khóa để tại nhà nên T nảy sinh ý định lấy trộm để đi cầm lấy tiền tiêu xài. T lén đẩy xe mô tô ra khỏi cửa và khởi động xe điều khiển đến thị trấn Đông Thành tìm bị cáo G.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T gặp G tại cầu bê tông đối diện Nghĩa trang liệt sĩ huyện Đức Huệ. T nhờ G đi cầm xe mô tô vừa lấy trộm, G hỏi nguồn gốc chiếc xe, thì T nói xe T lấy trộm của chị ruột. G vẫn đồng ý cầm xe giúp T giá 10.000.000 đồng. T mở điện thoại của T cho G nói chuyện với ông H1 thỏa thuận cầm xe, H1 đồng ý và kêu G điều khiển xe đến quán cà phê biển hiệu Sơ Ri thuộc khu phố 1, thị trấn Đông Thành gặp ông H1. G điều khiển xe đến quán cà phê gặp ông H1 và nói với ông H1 là xe của vợ G mua trả góp nên không có giấy tờ, ông H1 đồng ý cầm xe với giá 10.000.000 đồng. Khoảng 20 phút sau, sau khi cầm xe xong G đi xe ôm lại gặp T và đưa cho T số tiền 10.000.000 đồng. Sau đó, T và G đến quán cà phê không biển hiệu tại ấp 4, xã MT, tại đây T chơi đánh bạc dưới hình thức đá gà trực tuyến, G nằm chơi ở quán. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T chơi thua hết 9.600.000 đồng, còn lại 400.000 đồng T và G tiêu xài hết.
Sau đó, T kêu G dùng điện thoại của T điện cho chị P1 nói T đã lấy xe của P1 và đi cầm với số tiền 20.000.000 đồng, nếu chị P1 không chuộc thì 10 ngày sau người khác sẽ bán sang Campuchia, nếu chị P1 đưa tiền chuộc xe thì sau khi trả tiền gốc và tiền lãi cầm xe thì T sẽ lấy số tiền còn lại để tiêu xài. Thực hiện theo lời T, G dùng điện thoại của T để nói với chị P1 về việc chuộc xe, chị P1 đồng ý và hẹn đến sáng ngày 28-9-2022 sẽ gặp G để đi chuộc xe. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28-9-2022, T kêu G mở điện thoại của T để điện thoại hỏi chị P1 có tiền 20.000.000 đồng để chuộc xe chưa, chị P1 hẹn gặp G để giao tiền và cùng trực tiếp đi chuộc xe nhưng G không đồng ý do T dặn không để chị P1 trực tiếp đi chuộc xe. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, chị P1 tiếp tục hẹn và gặp G tại giao lộ Phan Văn Mảng - Huỳnh Công Thân thuộc khu phố 1, thị trấn Đông Thành, huyện Đức Huệ giao số tiền 20.000.000 đồng để chuộc xe mô tô biển số 62S1-347.09. G kêu chị P1 chờ, G đến quán cà phê Sơ Ri để gặp ông H1 đưa số tiền 10.200.000 đồng để chuộc xe, ông H1 kêu G đến tiệm rửa xe biển hiệu Ngô Thứ thuộc ấp 3, xã MT, huyện Đức Huệ để nhận xe vì xe đang được gửi rửa tại đây, G đi lấy xe về vị trí chị P1 để giao cho chị P1, khi vừa giao xe cho chị P1 thì G bị lực lượng Công an bắt khẩn cấp.
Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Future FI, màu sơn: trắng đen, biển số 62S1-347.09; 9.700.000 do bị cáo G giao nộp; 10.200.000 đồng do ông H1 giao nộp.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐG ngày 29-9-2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đức Huệ, tại thời điểm định giá xe mô tô biển số 62S1-347.09 có giá trị 28.080.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An (cùng Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 03/2023/TB-TA ngày 10-3-2023), đã xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Lại Văn G phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 32; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 28-9-2022). Tiếp tục tạm giam bị cáo T 45 ngày để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 32; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lại Văn G 01 (một) năm tù. Tiếp tục tạm giam bị cáo G 45 ngày để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28-3-2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 42/QĐ-VKSLA ngày 28-3-2023 kháng nghị đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An như sau:
- Bị cáo Hoàng Thanh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Future FI, biển số 62S1-347.09 trị giá 28.080.000 đồng của chị P1. Bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là không oan, đúng người, đúng tội.
- Bị cáo Lại Văn G không hứa hẹn trước, biết được xe mô tô biển số 62S1-347.09 là do bị cáo T trộm cắp mà có nhưng G vẫn đồng ý giúp T đem xe trên đi cầm cố được 10.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo G đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định và căn cứ Điều 250 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 tuyên bị cáo Lại Văn G 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là chưa chính xác vì tội “Tiêu thụ tại sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã hết hiệu lực.
- Các bị cáo T và G thực hiện hai tội phạm khác nhau nhưng Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 17 Bộ luật Hình sự quy định về đồng phạm để tuyên án là không đúng quy định pháp luật. Mặt khác, bản án tuyên tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày nhưng không xác định kể từ ngày nào là chưa đúng quy định tại khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Ngoài ra, theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nhận thấy: Sau khi T trộm xe mô tô biển số 62S1-347.09, G giúp T đem đi tiêu thụ, G lấy tiền về đưa cho T, T và G đến quán giải khát của người tên Đạt tại ấp 4, xã MT, T tham chơi đánh bạc dưới hình thức đá gà trực tuyến có người thanh niên tại quán sử dụng màn hình tivi tổ chức đánh bạc, T thua hết 9.600.000 đồng, còn lại 400.000 đồng T và G tiêu xài hết. Hành vi của T có dấu hiệu phạm tội “Đánh bạc” nhưng cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đánh bạc.
- Sau khi tiêu xài hết tiền, T và G bàn bạc tìm cách chiếm đoạt tiền của chị P1, T đưa điện thoại để G gọi cho chị P1, nói dối với chị P1 là xe đang cầm với giá 20.000.000 đồng, nếu không chuộc thì 10 ngày sau người khác sẽ bán sang Campuchia. Mặc dù chị P1 có nghi ngờ về số tiền chuộc xe nhưng không biết cụ thể là bao nhiêu, Chị P1 đem đủ 20.000.000 đồng đưa cho G, G đến gặp ông H1 trả tiền gốc và lãi cầm xe hết 10.200.000 đồng, còn lại 9.800.000 đồng chưa đưa cho T thì bị bắt. Hành vi của T và G đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự nhưng cấp sơ thẩm không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T và G là bỏ lọt tội phạm.
Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, theo hướng áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HSST ngày 03-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Chuyển hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm điều tra lại theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An vẫn giữ nguyên kháng nghị.
- Các bị cáo Hoàng Thanh T và Lại Văn G không có ý kiến đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm điều tra lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo mong muốn được Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để các bị cáo sớm được về lo giúp cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An kháng nghị đúng quy định tại Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
[2] Nội dung giải quyết và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo T khai nhận, bị cáo và chị P1 sống chung nhà. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 27-9-2022, tại khu vực ấp 1, xã Mỹ Hạnh Đông, huyện Đức Huệ, T biết chị P1 là chủ sở hữu của xe mô tô hiệu Honda, loại Future FI, màu sơn: trắng đen, biển số 62S1-347.09 vắng nhà nên lén lút chiếm đoạt xe mang đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài. Bị cáo G biết rõ xe do bị cáo T phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mang đi cầm cố giúp cho bị cáo T với số tiền là 10.000.000 đồng. Xét, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung án sơ thẩm đã nêu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Hoàng Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Lại Văn G phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định của Bộ luật Hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, không oan cho các bị cáo.
[2.2] Tuy nhiên, qua lời khai nhận của các bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì các bị cáo có hành vi phạm tội khác nhưng chưa được điều tra làm rõ, cụ thể:
- Sau khi G cầm cố xe mô tô nêu trên được 10.000.000 đồng đưa lại cho T, T cùng G đi đến quán của người tên là Đạt tại ấp 4, xã MT, huyện Đức Huệ, T tham gia chơi đá gà qua mạng tại đây thua 9.6000.000 đồng (T và G cùng khai thống nhất), nhưng hành vi này cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ để xác định có hay không có hành vi đánh bạc của bị cáo T và đánh bạc với ai để xử lý theo quy định của pháp luật.
- Sau khi đánh bạc thua hết tiền, các bị cáo đưa ra thông tin gian dối làm cho chị P1 tin là có thật, nên đã đồng ý giao cho bị cáo G số tiền 20.000.000 đồng và chị P1 đến trình báo cơ quan Công an bắt quả tang đối với bị cáo G. Hành vi này của các bị cáo T và G có dấu hiệu của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cấp sơ thẩm không khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử là bỏ lọt tội phạm.
[2.3] Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn có những sai sót khác như kháng nghị nêu gồm: Áp dụng điều luật về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bộ luật Hình sự không còn hiệu lực thi hành là trái pháp luật; các bị cáo G và T phạm hai tội khác nhau, nhưng án sơ thẩm xác định vai trò đồng phạm và áp dụng Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử là không có căn cứ; bản án tuyên tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án là có căn cứ, nhưng không xác định kể từ ngày nào là không đúng quy định pháp luật tại khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua xem xét, những nội dung trên của bản án sơ thẩm có sai sót về áp dụng pháp luật và đã được sửa chữa bổ sung tại Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 03/2023/TB-TA ngày 10-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ không tống đạt thông báo này cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An theo quy định của pháp luật, nên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An kháng nghị là có căn cứ để chấp nhận. Do đó, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm trong công tác xét xử về sau.
[3] Từ những căn cứ và nhận định trên, xét thấy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là có căn cứ, nên được chấp nhận toàn bộ. Cấp sơ thẩm điều tra chưa đầy đủ, có căn cứ cho rằng có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với các bị cáo Hoàng Thanh T và Lại Văn G. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An như đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa đề nghị. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An để điều tra lại vụ án theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí: Các bị cáo Hoàng Thanh T và Lại Văn G không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 42/QĐ-VKSLA ngày 28-3-2023 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An để điều tra lại vụ án theo quy định của pháp luật.
2. Tiếp tục tạm giam các bị cáo Hoàng Thanh T và Lại Văn G cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ thụ lý lại vụ án.
3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Hoàng Thanh T và Lại Văn G không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Long An (01); - Sở Tư pháp tỉnh Long An (01); - TAND huyện Đức Huệ (02); - VKSND huyện Đức Huệ (01); - Công an huyện Đức Huệ (01); - Chi cục THADS huyện Đức Huệ (01); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thiện Tâm |