vanban.org

Bản án 56/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Lường Thị L được ly hôn anh Ngô Văn Th.

Về con chung: Giao cho chị Lường Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ngô Đức T, sinh ngày 16/6/2019, anh Ngô Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L xin ly hôn anh Th"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Lường Thị L được ly hôn anh Ngô Văn Th.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2023
V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V,TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thanh Thủy;

2. Ông Hoàng Đình Mùi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 về việc Ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lường Thị L, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn KM, xã ĐL, huyện V, tỉnh Yên Bái. “ Vắng mặt - có đơn xin vắng mặt”.

- Bị đơn: Anh Ngô Văn Th, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn KM, xã ĐL, huyện V, tỉnh Yên Bái. “ Vắng mặt - không có lý do”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Lường Thị L trong đơn khởi kiện và bản tự khai trình bày: Chị và anh Ngô Văn Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 8 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã ĐL, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại Thôn KM, xã ĐL, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chị Lường Thị L và anh Ngô Văn Th chung sống không hòa hợp, thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng không Th. Từ tháng 02/2022 vợ chồng sống ly thân Chị Lường Thị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Lường Thị L ly hôn anh Ngô Văn Th.

- Về con chung: Chị Lường Thị L và anh Ngô Văn Th có 01 con chung là cháu Ngô Đức T, sinh ngày 16/6/2019. Ly hôn chị Lường Thị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thịnh và không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Ngô Văn Th không có mặt để giải quyết vụ án.

Tại biên bản xác minh ngày 28/7/2023, trưởng thôn KM, xã ĐL cho biết: Anh Ngô Văn Th và chị Lường Thị L có đăng ký kết hôn năm 2018. Sau khi kết hôn thì anh Th và chị L chung sống tại thôn KM, xã ĐL, huyện V, tỉnh Yên Bái. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Th không chịu làm ăn mới đi tù về. Nay chị L xin ly hôn anh Th đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung thì anh Th và chị L có 01 con chung là cháu Ngô Đức T, sinh ngày 16/6/2019.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn được Tòa án tống đạt các văn bản và triệu tập công khai chứng cứ hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do đã vi phạm Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lường Thị L:

+ Xử cho chị Lường Thị L được ly hôn với anh Ngô Văn Th.

+ Về con chung: Giao cháu Ngô Đức T, sinh ngày 16/6/2019 cho chị Lường Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh Ngô Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lường Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

+ Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lường Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Ngô Văn Th có đăng ký hộ khẩu tại thôn KM, xã ĐL, huyện V, tỉnh Yên Bái, vụ án do Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng tại phiên tòa anh Ngô Văn Th vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn do đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do thể hiện thái độ cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Chị Lường Thị L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Lường Thị L và anh Ngô Văn Th.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị L và anh Ngô Văn Th kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐL, huyện V. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống chị Lường Thị L và anh Ngô Văn Th phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh Th có lối sống không lành mạnh thường xuyên giao du với bạn bè xấu. Anh Th còn ghen tuông vô cớ và có những hành vi bạo lực thân thể chị L, dùng những lời lẽ sỉ nhục xúc phạm chị L là vi phạm Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị Lường Thị L và anh Ngô Văn Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy yêu cầu xin ly hôn của chị Lường Thị L phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Lường Thị L và anh Ngô Văn Th có 01 con chung là cháu Ngô Đức T, sinh ngày 16/6/2019. Trong đơn khởi kiện chị L đề nghị giải quyết để cháu Thịnh cho anh Th được trực tiếp nuôi dưỡng, tại bản tự khai đề ngày 05/7/2023 chị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thịnh và không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy cháu Ngô Đức T, sinh ngày 16/6/2019 tính đến thời điểm xét xử cháu Thịnh mới hơn 04 tuổi, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Ngô Văn Th vắng mặt không có lý do không trình bày ý kiến của mình. Để đảm bảo quyền và nghĩa vụ hợp pháp cho người phụ nữ và chăm sóc con chưa Th niên khi ly hôn thì việc giao cho chị Lường Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Ngô Đức T là phù hợp. Do chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Chị Lường Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo : Chị Lường Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử cho chị Lường Thị L được ly hôn anh Ngô Văn Th.

2. Về con chung: Giao cho chị Lường Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ngô Đức T, sinh ngày 16/6/2019, anh Ngô Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lường Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0001261 ngày 30/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Yên Bái, chị Lường Thị L đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Chị Lường Thị L và anh Ngô Văn Th được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết Bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự,người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ