- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hạnh Q ly hôn Nguyễn Văn B"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 56/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-5-2023 Về việc: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hữu Chí
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thanh Phương
Ông Hoài Đức Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc- Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến- kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 01/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2023/QĐST-NHGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 320/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hạnh Q, sinh năm 1987
Địa chỉ: ấp P, xã P1, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên hệ: ấp X, xã P1, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1976
Địa chỉ: ấp P, xã P1, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chịNguyễn Thị Hạnh Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Q và anh Nguyễn Văn B tự nguyện tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P1, huyện N, tỉnh Đồng Nai và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2013 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh B thường xuyên nhậu nhẹt, không lo làm ăn còn thường xuyên chửi bới, đánh đập chị. Mặc dù đã nhiều lần nói chuyện, khuyên nhủ anh B thay đổi để gia đình được êm ấm nhưng anh B vẫn chứng nào tật nấy. Chị và anh B đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay, không có bàn bạc đoàn tụ. Nay nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, không yêu thương quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh B.
Về con chung: Chị và anh B chung sống có 01 con chung là Nguyễn Bảo H, sinh ngày 15/4/2008. Chị yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, không yêu cầu anh B cấp dưỡng. Kể từ lúc vợ chồng sống ly thân, chị là ngươi trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung.
Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên chị Q xin được vắng mặt trong các phiên tòa Tòa án xét xử vụ án.
Bị đơn anh Nguyễn Văn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N:
- Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc tuân thủ pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chịNguyễn Thị Hạnh Q.
Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo H, sinh ngày 15/4/2008 cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn, anh B không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: đương sự khai tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: chịNguyễn Thị Hạnh Q khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn B; hiện anh B có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại xã P1, huyện N, vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện nên Toà án nhân dân huyện N thụ lý là đúng theo quy định tại khoản 5, Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chịNguyễn Thị Hạnh Q vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Q và anh B.
Về quan hệ hôn nhân: chị Q và anh B xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P1, huyện N, tỉnh Đồng Nai vào năm 2007 nên là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh B thường hay nhậu nhẹt, không lo làm ăn còn thường xuyên chửi bới, đánh đập chị Q. Tòa án đã triệu tập anh B tham gia phiên hòa giải để Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng phía bị đơn không đến tham gia phiên hòa giải, cũng không có văn bản ý kiến nộp cho Tòa, từ đó cho thấy anh B không có thiện chí đoàn tụ. Mặt khác, theo lời khai của chị Q thì vợ chồng đã tự sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay, không có bàn bạc đoàn tụ, không ai quan tâm lẫn nhau nên việc chị Q xin ly hôn là chính đáng và có cơ sở chấp nhận. Vì vậy căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Q được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
Về con chung: chị Q và anh B chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo H, sinh ngày 15/4/2008. Sau ly hôn, chị Q có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu H. Xét thấy việc giao con cho chị Q hay anh B nuôi dưỡng cần phải xem xét vào điều kiện và hoàn cảnh sống của mỗi bên nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường cho trẻ. chị Q và anh B đều có đủ điều kiện nuôi dạy con tốt nhưng hiện con chung đã trên 07 tuổi, qua tham khảo ý kiến, cháu H có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó để giữ sự ổn định cuộc sống của trẻ và xem xét nguyện vọng của con chung cần giao cháu Nguyễn Bảo H cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Q không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: đương sự khai tự thỏa thuận nên không xem xét.
Về nợ chung: đương sự khai không có nên không xem xét.
Về án phí: chị Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28, 35, 147, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 9, 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chịNguyễn Thị Hạnh Q. Xử cho chị Q được ly hôn anh Nguyễn Văn B.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo H, sinh ngày 15/4/2008 cho chị Q tiếp tục nuôi dưỡng. Tạm thời anh B không cấp dưỡng nuôi con.
anh B được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi vị trí nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: đương sự khai tự thỏa thuận nên không xem xét.
4. Về nợ chung: đương sự khai không có nên không xem xét
5. Về án phí: chị Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0009708 ngày 28/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N (đã nộp đủ).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - Viện KSND huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Các đương sự; - UBND xã; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Dương Hữu Chí |