vanban.org

Bản án 56/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M.

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị M ly hôn với anh Phan Văn H. Việc nuôi con: Giao con chung Phan Khánh Q, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2022 cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H do chị M không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:56/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Nghị và bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thùy Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 201/2023/TLST -HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 về yêu cầu “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 và quyết định hoãn phiên toà số 53/QĐST- HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M - sinh năm 1995

Nơi ĐKHKTT: xóm T, xã N, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

Nơi ở hiện nay: xóm P, xã N, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Phan Văn H, sinh năm 1997

Nơi ĐKHKTT: xóm T, xã N, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phan Văn H kết hôn với nhau vào ngày 06 tháng 5 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã N - huyện Nghĩa Đàn- tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng nhau, đã ly thân từ năm 2022 đến nay, nay chị không còn tình cảm với anh H nữa nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Phan Văn H có một con chung là Phan Khánh Q, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2022. Ly hôn chị M có nguyện vọng được nuôi con chung. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Phan Văn H:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh H biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh H nhưng anh H từ chối nhận giấy và không có mặt để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành giao giấy triệu tập và các tài liệu cho mẹ đẻ của anh H là bà Bùi Thị T và bà T cam kết giao lại cho anh H nhưng anh H vẫn không có mặt. Tòa án tiến hành niêm yết các tài liệu, chứng cứ tại địa phương nơi anh H cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M là cho ly hôn với anh Phan Văn H; Việc nuôi con: đề nghị hội đồng xét xử giao con chung Phan Khánh Q, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2022 cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành; Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H do chị M không yêu cầu; Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh

tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M có nơi cư trú tại xóm T, xã Nghĩa T, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An yêu cầu ly hôn với anh Phan Văn H là bị đơn có nơi cư trú tại xóm T, xã N, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Phan Văn H có hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã Nghĩa T, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh H biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh H nhưng anh H từ chối nhận nên đã giao cho bà Bùi Thị T là mẹ đẻ của anh H, sau khi nhận được giấy báo của Tòa án, bà T cam kết giao lại cho anh H. Quá trình xác minh thì được biết sau khi nhận giấy báo của Toà án, anh H đã biết thời gian, địa điểm đến Toà án để giải quyết vụ án nhưng anh H không đến và không có ý kiến gì. Toà án đã tiến hành niêm yết các tài liệu, giấy triệu tập và các chứng cứ tại địa phương nơi anh H cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Phan Văn H kết hôn với nhau vào ngày 06 tháng 5 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã N - huyện Nghĩa Đàn- tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng nhau, đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Xét thấy tình cảm giữa chị M và anh H không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị M.

2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Phan Văn H có một con chung là Phan Khánh Q, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2022. Quá trình chị M và anh H sống ly thân thì chị M là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung nên chị M có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi cho con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung Phan Khánh Q cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên là phù hợp.

2.3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H do chị M không yêu cầu.

2.4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; điểm b khoản 2 điều 227, điểm b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58; điều 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M.

1.Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị M ly hôn với anh Phan Văn H.

2.Việc nuôi con: Giao con chung Phan Khánh Q, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2022 cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H do chị M không yêu cầu.

Anh Phan Văn H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0004087 ngày 24 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.

4. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Phan Văn H có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ