- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị N - Huỳnh Kiều L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Bích N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HNGĐ - ST. Ngày: 20 - 7 - 2023. "V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Rực.
Bà Trần Thúy Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Gia Mẫn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2023/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Bích N, sinh năm 1995; địa chỉ HKTT: Ấp H, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở hiện nay: Số X Phạm Văn T, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Kiều L, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp X, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện lập ngày 25/4/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Bích N trình bày: Bà Võ Bích N và ông Huỳnh Kiều L tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân thị trấn Long Phú cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 87, ngày 28/7/2016. Sau khi kết hôn ông Huỳnh Kiều L và bà Võ Bích N sống hạnh phúc nhưng đến tháng 10 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải nhau và mẫu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà Võ Bích N và ông Huỳnh Kiều L không chung sống từ tháng 02/2022 cho đến nay. Trong quá trình chung sống ông Huỳnh Kiều L và bà Võ Bích N có một người con chung tên Huỳnh Hiểu B, sinh ngày 10/11/2016. Hiện con chung đang sống với bà N. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Bà Võ Bích N yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Kiều L; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên và không yêu cầu ông L cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung và nợ chung không có nên bà N không yêu cầu gì.
- Đối với bị đơn ông Huỳnh Kiều L: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông L, nhưng ông L không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông L 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng ông L vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn ông Huỳnh Kiều L đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Huỳnh Kiều L chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Võ Bích N và ông Huỳnh Kiều L đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N; giao cháu Huỳnh Hiểu B, sinh ngày 10/11/2016 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông L không cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 25/4/2023, nguyên đơn bà Võ Bích N trình bày: Bà Võ Bích N và ông Huỳnh Kiều L tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân thị trấn P cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 87, ngày 28/7/2016. Bà N yêu cầu xin được ly hôn với ông Huỳnh Kiều L và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên và không yêu cầu ông L cấp dưỡng cho con chung, về tài sản chung và nợ chung không có nên yêu cầu gì. Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Trong vụ án, bị đơn ông Huỳnh Kiều L hiện đang cư trú tại ấp X, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Huỳnh Kiều L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông L.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Võ Bích N và ông Huỳnh Kiều L tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 87, ngày 28/7/2016 nên quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông L là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bà Ncó quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà N, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian chung ông bà luôn xảy ra bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cải vã qua lại, mâu thuẩn kéo dài từ đó cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, bất hòa. Ông L và bà N đã sống ly thân với nhau tháng 10 năm 2020 cho đến nay và sau khi sống ly thân thì ông L và bà N không gặp nhau và không hàn gắn tình cảm. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng ông L và bà N đoàn tụ với nhau nhưng ông L vẫn vắng mặt và bà N vẫn kiên quyết ly hôn với ông L vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng ông L và bà N đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của bà N là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà Võ Bích N và ông Huỳnh Kiều L xác định trong thời gian chung sống, bà N và ông L có 01 người con chung là Huỳnh Hiểu B, sinh ngày 10/11/2016, hiện đang sống chung với bà N; bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên. Xét thấy, từ khi bà N và ông L không sống chung với nhau cho đến nay cháu Băng do bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Băng, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao cháu Băng cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngoài ra, căn cứ vào Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Huỳnh Kiều L mà không ai được cản trở.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Võ Bích N không yêu cầu cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Bích N xác định trong thời gian chung sống bà N và ông Huỳnh Kiều L không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Võ Bích N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Huỳnh Kiều L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Bích N.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Bích N được ly hôn với ông Huỳnh Kiều L.
1.2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Hiểu B, sinh ngày 10/11/2016 cho bà Võ Bích N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; ông Huỳnh Kiều L không cấp dưỡng cho con chung. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Huỳnh Kiều L mà không ai được cản trở.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Bích N xác định trong thời gian chung sống bà N và ông Huỳnh Kiều L không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Bích N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006925 ngày 18/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà Võ Bích N đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Huỳnh Kiều L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Long Phú; - UBND thị trấn P; - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Ánh |