vanban.org

Bản án 56/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Ngọc H1.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo Đ (Giới tính: Nam) sinh ngày 19/5/2011 và cháu Nguyễn Hoàng H2 (Giới tính: Nam) sinh ngày 29/4/2013 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị H chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Ngọc H1.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21 – 8 – 2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lil

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Qui

Ông Võ Thành Tài

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Bích Thuận, là Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2023/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1982 (có mặt).

Địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc H1, sinh năm: 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2010 chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc H1 tổ chức lễ cưới, đến ngày 31/5/2011 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân do anh chị cùng tự nguyện.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Lúc đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến đầu năm 2021 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc H1 ly thân cho đến nay.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc H1 có 02 con chung, tên Nguyễn Bảo Đ (Giới tính: Nam) sinh ngày 19/5/2011 và cháu Nguyễn Hoàng H2 (Giới tính: Nam) sinh ngày 29/4/2013, hai cháu hiện đang sống chung với chị Nguyễn Thị H.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận chưa yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H1, con chung chị Nguyễn Thị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo Đ và cháu Nguyễn Hoàng H2, không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận chưa yêu cầu giải quyết, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Ngọc H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn anh Nguyễn Ngọc H1.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Ngọc H1 chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H1.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo Đ (Giới tính: Nam) sinh ngày 19/5/2011 và cháu Nguyễn Hoàng H2 (Giới tính: Nam) sinh ngày 29/4/2013 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị H chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh H1 không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận chưa yêu cầu giải quyết nên chưa xem xét.

Về nợ chung: Không có nên không xem xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Ngọc H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Nguyễn Ngọc H1.

Về thẩm quyền: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của chị Nguyễn Thị H tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc H1 đã đăng ký kết hôn tại kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Phú, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 31/5/2011, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc H1 rất hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2021 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh chị đã ly thân cho đến nay. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H1. Xét thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc H1 là trầm trọng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì chị Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H1 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc H1 có 02 con chung, tên Nguyễn Bảo Đ (Giới tính: Nam) sinh ngày 19/5/2011 và cháu Nguyễn Hoàng H2 (Giới tính: Nam) sinh ngày 29/4/2013, các cháu hiện đang sống chung với chị Nguyễn Thị H. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo Đ và cháu Nguyễn Hoàng H2. Tại bản tự khai của cháu Nguyễn Bảo Đ và cháu Nguyễn Hoàng H2 trình bày sau khi cha mẹ ly hôn nguyện vọng của cháu xin được sống chung với mẹ (chị Nguyễn Thị H). Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Nguyễn Bảo Đ và cháu Nguyễn Hoàng H2 nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Nguyễn Bảo Đ và cháu Nguyễn Hoàng H2 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị H chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Anh Nguyễn Ngọc H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận chưa yêu cầu giải quyết nên chưa xem xét.

Về nợ chung: Không có nên không xem xét.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Ngọc H1.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo Đ (Giới tính: Nam) sinh ngày 19/5/2011 và cháu Nguyễn Hoàng H2 (Giới tính: Nam) sinh ngày 29/4/2013 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị Nguyễn Thị H chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Anh Nguyễn Ngọc H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận chưa yêu cầu giải quyết nên chưa xem xét.

4. Nợ chung: Không có nên không xem xét.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Nguyễn Thị H được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0004665 ngày 08 tháng 02 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn anh Nguyễn Ngọc H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ