- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hạnh - Tùng"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 7 -2023 V/v: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Trần Thanh Hải;
2. Bà: Lê Thị Chung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vui –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Ông K’Dem – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 77/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 03 năm 2023 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2023/QĐST ngày 21 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Mỹ H, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Thôn 1, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Trương Thanh T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: số 05 Thôn 10, xã Tân Lâm, huyện Di Linh, Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Mỹ H trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Tôi (Nguyễn Mỹ H) và anh Trương Thanh T tự nguyện kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lâm, huyện Di Linh, Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống tại: Thôn 10, xã Tân Lâm, huyện Di Linh, Lâm Đồng. Cuộc sống chung hạnh phúc đến tháng 1 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau, có những bất đồng về quan điểm, lối sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã và xô xát. Hiện vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay vợ chồng mỗi người sống một nơi, mạnh ai người đó sống, vợ chồng không còn ai quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay tôi xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Trương Thanh T, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn Trương Thanh T.
+ Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 con chung là cháu Trương Mỹ Duyên, sinh ngày 17/10/2017 hiện đang ở với anh Trương Thanh T và cháu Trương Kim Uyên, sinh ngày 14/5/2020 hiện đang ở với tôi.
Khi ly hôn yêu cầu Tòa án giao cháu Trương Mỹ Duyên, sinh ngày 17/10/2017 cho anh Trương Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Giao cháu Trương Kim Uyên, sinh ngày 14/5/2020 cho tôi (Nguyễn Mỹ H) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Cả hai không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Tài sản nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Trương Thanh T trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt:
+ Về hôn nhân: Tôi đồng ý ly hôn.
+ Về con chung: Tôi yêu cầu được nuôi con chung Trương Mỹ Duyên, giao con chung Trương Kim Duyên cho cô H trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải trợ cấp nuôi con.
- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Mỹ Hạnh cho chị Nguyễn Mỹ H được ly hôn với anh Trương Thanh T.
Giao cháu Trương Kim Uyên, sinh ngày 14/5/2020 cho chị Nguyễn Mỹ H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Giao cháu Trương Mỹ Duyên, sinh ngày 17/10/2017 cho anh Trương Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Chị H và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí: Chị Nguyễn Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Tòa án nhân dân huyện Di Linh nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Trương Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trương Thanh T theo thủ tục chung.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Mỹ H khởi kiện xin ly hôn, giải quyết nuôi con chung khi ly hôn với bị đơn anh Trương Thanh T. Do đó quan hệ tranh chấp là: “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi bị đơn cư trú là huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng nên Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo điểm a khoản 1 điêu 35 và điểm a khoản 1 điều 39 – Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Mỹ H và anh Trương Thanh T tự nguyện kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lâm, huyện Di Linh, Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống tại: Thôn 10, xã Tân Lâm, huyện Di Linh, Lâm Đồng. Cuộc sống chung hạnh phúc đến tháng 1 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau, có những bất đồng về quan điểm, lối sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã và xô xát. Hiện vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay vợ chồng mỗi người sống một nơi, mạnh ai người đó sống, vợ chồng không còn ai quan tâm, chăm sóc đến nhau.
Nay chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh Trương Thanh T.
Xét mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Nguyễn Mỹ H và anh Trương Thanh T được ly hôn.
Về con chung:
Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 con chung là cháu Trương Mỹ Duyên, sinh ngày 17/10/2017 và cháu Trương Kim Uyên, sinh ngày 14/5/2020.
Khi ly hôn Nguyên đơn chị H yêu cầu Tòa án giao cháu Trương Mỹ Duyên, sinh ngày 17/10/2017 cho anh Trương Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Giao cháu Trương Kim Uyên, sinh ngày 14/5/2020 cho chị Nguyễn Mỹ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Cả hai không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy bị đơn anh Trương Thanh T cũng thống nhất giao cháu Trương Kim Uyên, sinh ngày 14/5/2020 cho chị Nguyễn Mỹ H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi và yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trương Mỹ Duyên, sinh ngày 17/10/2017 cho đến khi đủ 18 tuổi. Không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy cháu Trương Kim Uyên, sinh ngày 14/5/2020 hiện đang ở với chị H nên cần giao cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu Trương Mỹ Duyên, sinh ngày 17/10/2017 hiện đang ở cùng anh Trương Thanh T nên cần giao cho anh T chăm sóc nuôi dưỡng.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn và thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn chị H trình bày về tài sản chung tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong khi bị đơn anh Trương Thanh T không không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung. Vì vậy Tòa án không đề cập giải quyết tài sản chung, nợ chung trong bản án này.
Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Mỹ H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là phù hợp
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; Điều 144; Điều 147, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51; Điều 53; Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Mỹ H và anh Trương Thanh T được ly hôn.
2. Về con chung:
Giao cháu Trương Kim Uyên, sinh ngày 14/5/2020 cho chị Nguyễn Mỹ H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.
Giao cháu Trương Mỹ Duyên, sinh ngày 17/10/2017 cho anh Trương Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.
Chị H và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn và thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Mỹ H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm xin ly hôn. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0007151 ngày 07 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02 bản); -VKSND huyện Di Linh (02 bản); - THADS huyện Di Linh (01 bản) - UBND nơi đăng ký kết hôn (01 bản; - Các đương sự (01 bản); - Lưu hồ sơ vụ án, AV (02 bản). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Đồng |