vanban.org

Bản án 56/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Trần Thị Thúy H đối với ông Nguyễn Văn H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Về con chung: Giao cho bà Trần Thị Thúy H được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Trần Huy H, sinh ngày 15/01/2017 và Nguyễn Trần Khả A, sinh ngày 14/01/2021. Ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thúy H - Nguyễn Văn H "Ly hôn""
  • Tòa quyết gì? I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Trần Thị Thúy H đối với ông Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26-9-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Nguyễn Minh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Quang Minh;

2. Ông Phạm Tuấn Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 143/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thúy H, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/4/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Trần Thị Thúy H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau từ năm 2016. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 28/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi cự lẫn nhau, giữa vợ chồng sống chung không còn tình cảm, không có hạnh phúc. Hiện nay, bà H thấy rằng tình trạng hôn nhân đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông H.

- Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Trần Huy H, sinh ngày 15/01/2017 và Nguyễn Trần Khả A, sinh ngày 14/01/2021. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con 02 con chung và yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng (2.000.000 đồng/con/tháng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn (ông Nguyễn Văn H): Ông H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, ý kiến cho Tòa án xem xét.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ, đúng trình tự, người tham gia tố tụng đúng thành phần. Phiên tòa được tiến hành đúng trình tự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung về thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi xem xét, thảo luận, Hội đồng xét xử nhận định,

Về tố tụng:

Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn.

Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn và được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn là ông Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau từ năm 2016. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo luật định tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo giấy đăng ký kết hôn số 49 ngày 28/6/2016. Quá trình chung sống, giữa vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm. Nguyên đơn xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, không hàn gắn được, thực tế nguyên đơn không còn chung sống cùng bị đơn. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác…và lý do chính đáng khác. Quá trình tiến hành tố tụng bị đơn được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, được tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như được triệu tập tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn từ chối đến Tòa án để tham gia các buổi hòa giải. Từ đó, Hội đồng xét xử nhận thấy bị đơn không có nguyện vọng đoàn tụ cùng nguyên đơn. Lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung tên Nguyễn Trần Huy H, sinh ngày 15/01/2017 và Nguyễn Trần Khả A, sinh ngày 14/01/2021, khi ly hôn nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung và yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng. Quá trình xác minh xác định được hiện nay bị đơn đang làm việc tại Công ty K, thu nhập hàng tháng của bị đơn từ 13.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng.

Xem xét về các con chung, hội đồng xét xử nhận thấy, cháu A giới tính nữ và chưa được 36 tháng tuổi, khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

“3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Như vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A là phù hợp với quy định pháp luật. Đối với cháu Huy H, quá trình tố tụng, bị đơn không cung cấp ý kiến nên không có cơ sở xem xét về việc giao con chung là cháu Huy H cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Mặt khác, cháu Huy H hiện đang sống cùng nguyên đơn việc giao cháu Huy H cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp và đảm bảo được sự phát triển tốt nhất cho cháu. Yêu cầu của nguyên đơn về việc được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là có cơ sở chấp nhận.

Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Bị đơn được triệu tập hợp lệ để có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn về con chung và cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bị đơn không có mặt, không cung cấp ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào mức sống trung bình tại địa bàn huyện D, mức thu nhập của bị đơn, Hội đồng xét xử xác định yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Y kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên hội đồng xét xử chấp nhận.

Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân;

- Căn cứ vào các Điều 9, 19, 56, 81, 82, 83, 84, 85 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 468 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Trần Thị Thúy H đối với ông Nguyễn Văn H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Giao cho bà Trần Thị Thúy H được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Trần Huy H, sinh ngày 15/01/2017 và Nguyễn Trần Khả A, sinh ngày 14/01/2021. Ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng (2.000.000 đồng/con/tháng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo thỏa thuận, thì ông H còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Thúy H không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

II. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

1. Án phí ly hôn: Bà Trần Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0011616 ngày 11 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

2. Án phía cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

III. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ