- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "T/c hợp đồng vay tài sản giữa ông Nguyễn Thành C với ông Lê Thanh D"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/DS-PT Ngày 22 - 02 - 2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Hùng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Lập
Ông Đặng Minh Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Tú Anh là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 và ngày 22 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 322/2022/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 264/2022/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 300/2022/QĐ-PT ngày 21 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành C1, sinh năm 1961 (có mặt).
Địa chỉ: Số 401, đường Tạ Uyên, khóm 4, phường 9, thành phố C, tỉnh C.
- Bị đơn: Ông Lê Thanh D, sinh năm 1984.
Bà Lê Diệu C2, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Số 07, đường Trần Quang Diệu, khóm 4, phường 9, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
ĐKNKTT: Ấp Bà Điều, xã Lý Văn Lâm, thành phố C, tỉnh C.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trương L, sinh năm 1981.
(có mặt, đến ngày 22/02/2023 tiếp tục phiên xử ông Trương L vắng mặt không rõ lý do)
Địa chỉ: Số 20, đường Nguyễn Bình, ấp Bà Điều, xã Lý Văn Lâm, thành phố C, tỉnh C.
- Người kháng cáo:Ông Lê Thanh D, bà Lê Diệu C2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn ông Nguyễn Thành C1 trình bày: Từ năm 2016 đến năm 2019 ông đã nhiều lần cho ông Lê Thanh D, bà Lê Diệu C2 vay tiền, lãi suất thỏa thuận là 01%/tháng, ông D, bà C2 có thanh toán lãi, không thanh toán vốn. Đến ngày 15/4/2019 ông C1, ông D, bà C2 đã đối chiếu và chốt lại các biên nhận tiền vốn vay là 5.500.000.000đ, các bên thỏa thuận ông D, bà C2 viết lại biên nhận mới tổng các khoản vay và thỏa thuận lại lãi suất vẫn là 01%/tháng. Từ khi các bên đối chiếu nợ ông D, bà C2 đã không thanh toán lãi nên đến tháng 12/2019 ông D, bà Cầm có đối chiếu xác nhận lãi từ tháng 06 đến tháng 12/2019 ông D, bà C2 nợ lại là 385.000.000đ cam kết trả lãi ngay nhưng sau đó không trả lãi, đến tháng 02/2020 ông D, bà C2 lại tiếp tục xác nhận nợ lãi tháng 01 và 02 nhưng chỉ ghi nợ lãi là 70.000.000đ, tổng nợ lãi 455.000.000đ nhưng vẫn không thanh toán lãi. Nay ông C1 yêu cầu ông Lê Thanh D, bà Lê Diệu C2 có trách nhiệm thanh toán cho ông số tiền nợ gốc là 5.500.000.000đ và lãi từ ngày 15/5/2019 đến ngày xét xử là 40 tháng x 01%/tháng = 2.200.000.000đ. Tổng hai khoản là 7.700.000.000đ.
Đại diện cho bị đơn ông Trương L trình bày: Từ trước tới nay ông D, bà C2 không có giao dịch vay tiền của ông C1, không thừa nhận có viết biên nhận và các chứng từ đối chiếu nợ nên đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ngoài ra, khoản vay của các đương sự là giao dịch vay không xác định thời hạn nên khi nguyên đơn muốn đòi nợ phải có nghĩa vụ thông báo trước với bị đơn nhưng nguyên đơn không thực hiện việc thông báo nên không có quyền khởi kiện. Hơn thế, nguyên đơn cho vay ngày 15/4/2019 các bị đơn chỉ trả lãi được 01 tháng nên đến ngày 15/6/2019 quyền lợi nguyên đơn đã bị xâm phạm nhưng đến 15/7/2022 nguyên đơn mới khởi kiện là đã hơn 03 năm nên hết thời hiệu khởi kiện, vì vậy đề nghị Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án.
Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 264/2022/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Lê Thanh D, bà Lê Diệu C2 phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Thành C1 số tiền là 7.680.166.000 đồng. Trong đó vốn là 5.500.000.000đ, lãi là 2.180.166.000đ. Không chấp nhận yêu cầu nguyên đơn đối với số tiền lãi còn lại là 19.834.000đ.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.
Ngày 11/10/2022, ông Lê Thanh D, bà Lê Diệu C2 là bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc hủy bản án sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án, đồng thời Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho nguyên đơn; yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của bị đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện ông, bà giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Thanh D, bà Lê Diệu C2, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 264/2022/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn về yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc hủy đình chỉ vụ án do hết thời hiệu khởi kiện và giám định chữ ký, chữ viết của bị đơn. Nhận thấy:
Giao dịch vay tiền của nguyên đơn và bị đơn được thể hiện tại tờ xác nhận nợ. Tuy nhiên, bị đơn không thừa nhận có vay tiền nguyên đơn và cho rằng tờ xác nhận nợ vay do nguyên đơn cung cấp không đúng chữ ký, chữ viết của các bị đơn nên đề nghị Tòa án giám định chữ viết, chữ ký. Tại giai đoạn cấp phúc thẩm Tòa án đã mời ông Lê Thanh D, bà Lê Diệu C2 03 lần để tham gia buổi làm việc, thu thập mẫu chữ viết, chữ ký thực hiện thủ tục giám định theo yêu cầu, nhưng bị đơn không đến. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 08/02/2023 Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa và tiếp tục tống đạt giấy mời ông D và bà C2 để thu thập mẫu tiến hành giám định theo yêu cầu, ông L là người đại diện cho bị đơn trực tiếp nhận giấy triệu tập nhưng các bị đơn cũng không có mặt và không cung cấp thêm chứng cứ gì để chứng minh chữ viết và chữ ký trong giấy xác nhận nợ cũng như nội dung đối chiếu lại nợ đến tháng 02 năm 2022 không phải là của mình; việc không có mặt của bị đơn về cung cấp mẫu giám định xem như đã từ bỏ việc đề nghị xem xét yêu cầu giám định đối với chữ viết, chữ ký. Nội dung này tại cấp sơ thẩm bị đơn cũng đặt ra nhưng không cung cấp các tại liệu và yêu cầu giám định trước khi xét xử sơ thẩm, nên cấp sơ thẩm không chấp nhận việc giám định là có căn cứ.
Đối với ý kiến của ông Trương L đại diện cho bị đơn cho rằng nguyên đơn chưa có quyền khởi kiện vì giao dịch vay của các đương sự là giao dịch vay không xác định thời hạn nên nguyên đơn chỉ được yêu cầu sau khi thông báo với bị đơn. Xét thấy tuy đây là việc vay không thời hạn, nhưng theo đơn kiện của nguyên đơn là bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả lãi, nghĩa là bị đơn đã vi phạm hợp đồng, do vi phạm hợp đồng nên nguyên đơn có quyền khởi kiện, do đó cấp sơ không chấp nhận yêu cầu này của bị đơn là đúng luật định.
Đối với yêu cầu hủy bản án sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án xác định áp dụng thời hiệu, đồng thời Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho nguyên đơn do không còn thời hiệu khởi kiện. Xét yêu cầu này cấp sơ thẩm nhận định theo “giấy xác nhận nợ” có nội dung xác nhận nợ lãi của tháng 01 và 02 năm 2020 là 70.000.000đ do vậy được tính thời hiệu từ tháng 02 năm 2020 như cấp sơ thẩm là đúng pháp luật qui định về thời hiệu.
Xét về khoản nợ ngoài các nhận định của cấp sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm Tòa án đã thu thập thêm các ý kiến của các nhân chứng theo trình bày của nguyên đơn, trong đó có ông Nguyễn Tấn Lợi là cha của ông D khai rằng: “... khi họp gia đình tại công ty ông D về việc mất cân đối tài chính ông D có kê khai thiếu nợ mất cân đối với nhiều người, trong đó có thiếu ông C1 05 tỷ rưởi”. Với những chứng cứ thu thập tại cấp sơ và phúc thẩm cho thấy cấp sơ thẩm chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.
Từ những nhận định trên, cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Do không chấp nhận kháng cáo nên ông Lê Thanh D, bà Lê Diệu C2 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 264/2022/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Lê Thanh D, bà Lê Diệu C2 phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Thành C1 số tiền là 7.680.166.000 đồng. Trong đó vốn là 5.500.000.000 đồng, lãi là 2.180.166.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu nguyên đơn đối với số tiền lãi 19.834.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Thành C1 được miễn.
Ông Lê Thanh D, bà Lê Diệu C2 phải nộp là 115.680.000 đồng (chưa nộp).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Thanh D, bà Lê Diệu C2 phải chịu. Ngày 12/10/2022, ông Lê Thanh D đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002150 và bà Lê Diệu C2 đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002149 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được chuyển thu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Thanh Hùng |