- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đăng H - trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đăng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 56/2022/HSST Ngày: 30-6- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Loan
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Hoài
2. Ông Phạm Xuân Đính
-Thư ký phiên toà: Ông H Ph ng Tâm – Th ký Toà án nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông B Đức Trọng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại Toà án nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2022, Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 53/2022/HSST-QĐ ngày 20/6/2022 đối với bị cáo:
Lê Đăng H, Sinh năm 2003 tại Thanh Hóa; N i th ờng trú: HKTT: ấp 10, xã M, huyện C, tỉnh Bình Ph ớc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Đăng C và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không. tạm giam từ ngày 01 tháng 4 năm 2022 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty TNHH một thành viên chuyển phát nhanh T -Chi nhánh Bình D ng.
Ng ời đại diện theo ủy quyền: Chị Huỳnh Thị N, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp 4, xã M, huyện C, tỉnh Bình Ph ớc. Có đ n xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đăng H là ng ời không có nghề nghiệp. Vào tối ngày 31/03/2022, H đi bộ đến khu vực chợ M với mục đích tìm nhà dân s hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp tài sản. Khoảng 2 giờ 30 phút, ngày 01/4/2022, H đi đến - B u cục chuyển phát nhanh J&T Express thuộc công ty TNHH MTV chuyển phát nhanh T- chi nhánh Bình D ng thuộc tổ 3, ấp 3B, xã M, huyện C, phát hiện có bảng điều khiển cửa cuốn không khóa. H mở hộp điều khiển, bấm nút mở cửa thì cửa cuốn tự động kéo lên và đột nhập vào trong b u cục. Tại đây, H lục soát lấy trộm 01 thiết bị điện tử nhãn hiệu IDATA, màu đen, số kiểu máy 95W Series (dùng để quét mã vạch các b u kiện, b u phẩm) cùng 01 dây sạc trên bàn làm việc, H tiếp tục mở các gói b u kiện, b u phẩm thấy bên trong có n ớc hoa, túi xách, giày,...nên H không lấy. Sau đó H đi ra bấm nút đóng cửa cuốn, r i bỏ đi. Đến sáng cùng ngày, Nhân viên của B u cục chuyển phát nhanh J&T đến làm việc thì phát hiện bị mất trộm tài sản nên đến Công an xã M trình báo.
Qua truy xét, Công an xã M phát hiện H đang trên đ ờng tìm bán thiết bị trên nên mời về trụ sở làm việc. Tại Công an xã H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nh trên.(BL 58-67)
Kết luận định giá tài sản số 18/KLĐG-HĐĐGTS ngày 06/4/2022 của Hội đông định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C xác định trị giá 01 thiết bị điện tử nhãn hiệu IDATA, màu đen cùng 01 dây sạc đã qua sử dụng tại thời điểm xảy ra vụ án là 2.786.537 đ ng. (BL 43-44)
Quá trình điều tra thu giữ: 01 thiết bị điện tử nhãn hiệu IDATA, màu đen, số kiểu máy 95W Series, cùng với 01 dây sạc của B u cục chuyển phát nhanh J&T Express thuộc công ty TNHH MTV chuyển phát nhanh T- chi nhánh Bình D ng (đại diện là chị Huỳnh Thị D). Vật chứng trên là tài sản hợp pháp của bị hại nên C quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu. (B1 53)
Tại Bản cáo trạng số 52/CTr-VKS-CT ngày 26/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc đã truy tố bị cáo Lê Đăng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc giữ quyền công tố trình bày quan điểm:
Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Đăng H về tội “Trộm cắp tài s n” theo khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1,2 Điều 51, các điều 38, 50, 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
-Đề nghị Hội đ ng xét xử: Xử phạt bị cáo Lê Đăng H từ 03 đến 06 tháng tù.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của hại tại c quan điều tra, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện tr ờng, đ vật, tài liệu bị tạm giữ, vật chứng vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác có trong h s vụ án đ ợc xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử có đủ c sở kết luận: Ngày 01 tháng 4 năm 2022, tại B u cục chuyển phát nhanh J&T thuộc tổ 3, ấp 3B, xã M, huyện C, Lê Đăng H lén lút lấy trộm 01 thiết bị điện tử nhãn hiệu IDATA, màu đen, số kiểu máy 95W Series, cùng với 01 dây sạc của B u cục chuyển phát nhanh J&T Express thuộc công ty TNHH MTV chuyển phát nhanh T- chi nhánh Bình D ng, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.786.537 đ ng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Cáo trạng số 52/CTr-VKS-CT ngày 26/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc đã truy tố bị cáo Lê Đăng H theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định tội Trộm cắp tài sản:
“1. Người nào trộm cắp tài s n của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt c i tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:……….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của ng ời khác, là khách thể đ ợc pháp luật bảo vệ; ảnh h ởng đến an ninh, trật tự tại địa ph ng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, tại phiên tòa bị cáo khai do cha mẹ bỏ nhau, bị cáo đi lang thang, đói quá nên vào tìm lục đ ăn, thấy chiếc máy quét mã vạch, bị cáo t ởng nhầm là điện thoại nên lấy trộm. Việc bị cáo khai nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội do hoàn cảnh khó khăn đ ợc hội đ ng xét xử cân nhắc khi l ợng hình. Riêng việc nhầm lẫn về tài sản không ảnh h ởng gì đến việc định tội; Do bị cáo nhận thức đ ợc việc lén lút chiếm đoạt tài sản của ng ời khác là vi phạm pháp luật nh ng do muốn có tiền tiêu xài một cách bất chính nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại c quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải bị cáo phạm tội lần đầu thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Do đó, bị cáo h ởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do bị cáo đ ợc h ởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng mức hình phạt d ới mức thấp nhất của khung hình phạt, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, cũng đủ để cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Ng ời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đ ng đến 50.000.000 đ ng theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về trách nhiệm dân sự: tài sản đã đ ợc thu h i và trả lại, ng ời bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 thiết bị điện tử nhãn hiệu IDATA, màu đen, số kiểu máy 95W Series, cùng với 01 dây sạc của B u cục chuyển phát nhanh J&T Express thuộc công ty TNHH MTV chuyển phát nhanh Thuận Phong- chi nhánh Bình D ng (đại diện là chị Huỳnh Thị D). Vật chứng trên là tài sản hợp pháp của bị hại nên C quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu nên hội đ ng xét xử không xem xét
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch n Thành, tỉnh Bình Ph ớc là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đ ng xét xử nên đ ợc chấp nhận.
Án phí hình sự s thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đăng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Đăng H 03 (ba) tháng tù, bằng thời hạn bị cáo đã bị tạm giam.
Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự, trả tự do cho bị cáo Lê Đăng H tại phiên tòa.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự s thẩm: bị cáo Lê Đăng H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đ ng.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ng ời bị hại vắng mặt đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đ ợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Ph ớc; - VKSND tỉnh Bình Ph ớc - VKSND huyện C; - CCTHADS huyện C; - CA huyện C; - UBND n i c trú của bị cáo; - Ng ời tham gia tố tụng; - L u. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Loan |