- Tranh chấp gì? án hình sự — "hs - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quốc L, Lâm Quốc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2022/HSST Ngày: 20-12-2022 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kỳ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mầm
Ông Nguyễn Tấn Lộc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc San – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cái Nước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2022/HSST ngày 14 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022, đối với các bị cáo:
Bị cáo thứ nhất: Trần Quốc L, sinh năm 1985 tại huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: ấp ÔD, xã ĐM, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm vuông; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Quốc V và bà Lữ Thị O; Vợ: Trần Thị N; Con: 01 người; Tiền án: Không; Tiền sự: 01; Nhân thân: Ngày 30/3/2022 bị Ủy ban nhân dân xã Trần Thới ra Quyết định xử vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” đến nay chưa nộp phạt; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 20/7/2022 đến nay; Bị cáo bị tạm giam có mặt.
Bị cáo thứ hai: Lâm Quốc A, sinh năm 1983 tại huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: ấp ÔC, xã ĐM, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lâm ThA H và bà Nguyễn Thị D; Vợ: Trần Thị T; Con: 01 người; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 20/7/2022 đến nay; Bị cáo bị tạm giam có mặt.
Bị hại:
1. Ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp L Ấ, xã HM, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
2. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1981 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp ĐH, xã THĐ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
3. Ông TVS, sinh năm 1969 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm NH, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
4. Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1971 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp LX, xã PH, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
5. Ông Bùi Chí T, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp ĐH, xã THĐ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Quốc V, sinh năm 1958 (Có mặt).
2. Bà Lữ Thị O, sinh năm 1960 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp ÔD, xã ĐM, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có hẹn với nhau qua điện thoại vào lúc khoảng 16 giờ 20 phút ngày 19/7/2022 nên khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày Trần Quốc L chạy xe mô tô, biển kiểm soát 69K3-1992, xe mượn của ông Trần Quốc V (cha ruột L), một mình chạy ra thành phố Cà Mau và rước Lâm Quốc A cùng về, do chưa đến giờ hẹn nên L chạy vòng quA thành phố Cà Mau chơi, đến giờ hẹn L đến rước Quốc A chạy về theo tuyến Quốc Lộ 1 hướng Cà Mau về Năm Căn. Khi đi ngang nhà A Nguyễn Hải Đ thuộc ấp Lý Ấn, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, lúc này khoảng hơn 00 giờ 00 phút ngày 20/7/2022, L phát hiện phía trước nhà có để một dàn cầu máy D15, có gắn hộp số bằng sắt nên rủ Quốc A lấy trộm bán chia nhau tiêu xài thì Quốc A đồng ý, L chạy xe sang lề trái đậu lại, xuống xe cùng với Quốc A đi vào lấy dàn cầu máy D15, có gắn hộp số bằng sắt ra để cặp lề Quốc lộ 1, rồi lên xe chạy thẳng xuống hướng Cái Nước tìm tài sản lấy tiếp; khi đi ngang trại mộc “TS” do A Phạm Văn T làm chủ, L phát hiện bên hông nhà có để khung máy lộng gỗ bằng sắt, L chạy xe sang lề trái đậu lại, xuống xe cùng với Quốc A vào lấy khung máy lộng gỗ bằng sắt đem ra để cập Quốc lộ 1. Sau đó L chở Quốc A về hướng thị trấn Cái Nước, rồi chạy vào đoạn lộ Tân Duyệt, L phát hiện xe kéo (loại xe ba gác) chiều dài 2m4, ngang 1m2, trên xe có lót miếng nhựa đặc (loại nhựa làm bửng cống vuông tôm) dài 2,04m, chiều ngang 90cm, cân nặng 28kg của A Trần Văn Sự đang đậu ngoài hành lang Trung Tâm y tế huyện Cái Nước thuộc khóm 3, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, L chạy xe qua đậu lại, rồi xuống xe, một mình đi vào lấy xe kéo đẩy ra ngoài, L gác thA xe kéo lên yên xe mô tô, rồi kêu Quốc A ngồi lên để L chạy đến các vị trí để tài sản lấy trước đó, L chở Quốc A kéo theo xe kéo đến lấy khung lộng gỗ bằng sắt để lên xe kéo, rồi kêu Quốc A ra lái xe, L ngồi phía sau Quốc A chở ngồi sau kéo theo xe kéo chạy đến khu vực nhà A Đăng lấy dàn cầu máy D15, có gắn hộp số bằng sắt để lên xe kéo định di chuyển đi thì bị lực lượng Công an xã Hưng Mỹ phát hiện bắt quả tang. Đưa L và Quốc A về trụ sở Công an xã làm việc, tiến hành thử test nhA, kết quả L và Quốc A dương tích với ma túy đá.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn chứng minh Trần Quốc L còn thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản. Cụ thể:
- Lần thứ nhất: Ngày 27/5/2022 L trộm cắp tài sản của A Bùi Chí T, sinh năm: 1983, cư trú tại ấp Đông Hưng, xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau gồm: 01 (một) chiếc xe kéo (loại xe ba gác) tại ấp Đông Hưng, xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Sau khi lấy xong L bán cho một người đàn ông thu mua phế liệu (chưa xác định) ở khu vực gần cầu Lương Thế Trân với giá 420.000 đồng, số tiền này L đã tiêu xài cá nhân hết.
- Lần thứ hai: Vào ngày 19/7/2022 L trộm cắp tài sản của A Huỳnh Văn Đ, sinh năm: 1971, cư trú tại ấp Lộ Xe, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau gồm: 01 (một) chiếc xe kéo (loại xe ba gác) và 01 (một) chiếc xe kéo một bánh (loại xe dùng để chở hàng hóa nhỏ) tại ấp Lộ Xe, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Sau khi lấy xong L bán cho một người phụ nữ thu mua phế liệu (chưa xác định) ở khu vực gần cầu Lương Thế Trân với giá 350.000 đồng, số tiền này L đã tiêu xài cá nhân hết.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) dàn cầu máy D15 có gắn hộp số bằng sắt; 01 (một) khung máy lộng gỗ bằng sắt; 01 (một) chiếc xe kéo (loại xe ba gác) chiều dài 2m4, ngang 1m2, trên xe có lót miếng nhựa đặc (loại nhựa làm bửng cống vuông tôm) dài 2.04m, chiều ngang 90cm, cân nặng 28kg; 01 (mộ) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 69K3-1992, số khung RMNWCHEMN7H000535; 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số 0061864 mang tên Lữ Hoàng Diệu; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy not 4, Imel 354888060295250/01, SNR39F90JMXR, có gắn số thuê bao 0916.000.024, số seri sim 898402000, 11249664465.
Vật chứng đã trả lại gồm: 01 (một) dàn cầu máy D15 có gắn hộp số bằng sắt; 01 (một) khung máy lộng gỗ bằng sắt; 01 (một) chiếc xe kéo (loại xe ba gác) chiều dài 2m4, ngang 1m2, trên xe có lót miếng nhựa đặc (loại nhựa làm bửng cống vuông tôm) dài 2.04m, chiều ngang 90cm, cân nặng 28kg;
Tại kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 27/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Cái Nước, kết luận: Tổng cộng tài sản các bị can chiếm đoạt theo định giá là 5.358.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 38/CT–VKS ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước truy tố các bị cáo Trần Quốc L, Lâm Quốc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Quốc L từ 09 tháng đến 01 năm tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Lâm Quốc A từ 06 đến 09 tháng tù;
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cái Nước, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thự hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Đối với ông Nguyễn Hải Đ, Phạm Văn T, Trần Văn S, Huỳnh Văn Đ, Bùi Chí T và bà Lữ Thị O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để đến tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Cụ thể là vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 20/7/2022 hai bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm 01 dàn cầu máy D15 có gắn hộp số bằng sắt của ông Nguyễn Hải Đ ở ấp Lý Ấn, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; lấy trộm 01 khung máy lộng gỗ bằng sắt của ông Phạm Văn T ở ấp Đông Hưng, xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; lấy trộm 01 xe kéo của ông Trần Văn S đang để ở Khóm 3, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 27/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cái Nước kết luận tổng giá trị tài sản nêu trên là 5.358.000 đồng nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Quốc L, Lâm Quốc A phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện để có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương; gây tâm lý hoang mang cho người dân trong việc quản lý tài sản của mình. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm để bị cáo có thời gian cải tạo thành người công dân tốt có ích cho xã hội, nhằm mục đích giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không; Bị cáo Trần Quốc L được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn (đang nuôi 02 người con dưới 2 tuổi), đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Bị cáo Lâm Quốc A được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Quốc L và Lâm Quốc A, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Nước ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp.
Đối với hành vi “Trộm cắp tài sản” vào ngày 27/5/2022 của ông Bùi Chí Tâm , vào ngày 19/7/2022 của ông Huỳnh Văn Đáp do không thu hồi được tài sản, không định giá được nên không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với người thu mua phế liệu của bị cáo L vào ngày 27/5/2022 và ngày 19/7/2022 do chưa xác định được nên cần tiếp tục xác minh để xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Do trong quá trình điều tra những người bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về vật chứng của vụ án:
Do khi cho bị cáo L mượn xe ông Trần Quốc V không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho ông Trần Quốc Việt 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu CITINEW, biển số 69K3- 1992, số khung RMNWCHEMN7H000535 (Đã qua sử dụng) và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0061864 mang tên Lữ Hoàng Diệu (Đã qua sử dụng).
Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy not 4, imel 354888060295250/01, SNR39F90JMXR, có gắn số thuê bao 0916000024, số seri sim 898402000, 11249664465 của bị cáo Lâm Quốc A (Đã qua sử dụng) không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173 của bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quốc L, Lâm Quốc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Trần Quốc L 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 20/7/2022.
- Áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Lâm Quốc A 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 20/7/2022.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Trả lại cho ông Trần Quốc V 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu CITINEW, biển số 69K3- 1992, số khung RMNWCHEMN7H000535 (Đã qua sử dụng) và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0061864 mang tên Lữ Hoàng Diệu (Đã qua sử dụng).
Trả lại cho Lâm Quốc A 01 điện thoại di động Samsung Galaxy not 4, imel 354888060295250/01, SNR39F90JMXR, có gắn số thuê bao 0916000024, số seri sim 898402000, 11249664465 (Đã qua sử dụng).
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/10/2022).
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc Trần Quốc L và Lâm Quốc A mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo và ông Trần Quốc Việt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Cái Nước; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Cái Nước; - Cơ quan THAHS Công an huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - Sở tư pháp tỉnh Cà Mau; - Bị cáo, Bị hại, NLQ; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Kỳ |