vanban.org

Bản án 56/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng Tuyên án 06/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Minh S, Trương Đình H và Trần M C đồng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về hình phạt: Bị cáo Trần Minh S 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được bản án và quyết định thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh Sơn - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Minh S, Trương Đình H và Trần M C đồng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2022/HS-ST
Ngày 06-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ pH toà: Ông Hoàng Đức Vịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyết

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký pH toà: Bà Phạm Thị Ly Ly – Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia pH tòa: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 06-12-2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2022/TLST-HS ngày 04-11-2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐXXST-HS ngày 11-11-2022 và Quyết định hoãn pH toà số: 29/2022/QĐST-HS ngày 24-11-2022, đối với các bị cáo:

1. Trần Minh S, sinh năm 1989 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn LN, xã ĐTh, huyện TL, thành phố Hải Phòng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trần Văn A và bà Vũ Thị Th; có vợ là Nguyễn Thị Thuý Ph và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12-9-2022 đến nay, có mặt.

2. Trương Đình H, sinh năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 180/6A, đường BVB, phường TThĐ, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trương Văn Phương và bà Đào Thị Chiêm; có vợ là Nguyễn Đình Bảo Linh; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12-9-2022 đến nay, có mặt.

3. Trần M C, sinh năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn LN, xã ĐTh, huyện TL, thành phố Hải Phòng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trần Văn Nhớ và bà Đỗ Thị Gấm; có vợ là Phạm Như Quỳnh và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12-9-2022 đến nay, có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Tiến M, anh Bùi Xuân Tr, anh Lương Văn Th, anh Phạm Xuân Kh, bà Nguyễn Thị H và Uỷ ban nhân dân xã Giang Biên; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại pH tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14-4-2022, tại hiệu thuốc Minh Tâm ở thôn 4, xã GB, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Trần Minh S có hành vi để ở quầy hiệu thuốc Minh Tâm do mình quản lý 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 dây pháo nổ màu đỏ đen và nói “Ai đốt thì đốt” thì Trần M C và Trương Đình H đã lấy 01 dây pháo dải ra lòng đường phía trước cửa hiệu thuốc Minh Tâm, dùng bật lửa đốt dây pháo nổ trong thời gian khoảng 01 phút đã làm náo động trật tự ở nơi công cộng và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Tại Bản kết luận giám định số: 53/KL-KTHS(CN) ngày 07-7-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận về xác pháo thu được như sau: "Các mảnh giấy vụn bị rách nham nhở có tổng khối lượng 8,38 gam, là xác pháo. Mẫu vật này khi chưa sử dụng là pháo nổ. Không đủ điều kiện xác định khối lượng thuốc pháo và khối lượng pháo ban đầu".

Tại Bản kết luận giám định số: 3114/KL-KTHS ngày 16-8-2022 của Viện khoa học Hình sự - Bộ Công an kết luận về video thu được như sau: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file video có tên “VIDEO-DOWNLOAD-1652707082447.mp4”. Trích xuất hình ảnh các đối tượng trong file video có tên “VIDEO-DOWNLOAD-1652707076420.mp4”(Chi tiết thể hiện trong Phụ lục) gồm 02(hai) Tr giấy khổ A4”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo và tại pH toà Trần Minh S, Trần M C và Trương Đình H đều khai nhận:

Sáng ngày 14-4-2022, Trần Minh S có mời khách, bạn bè đến mừng tổ chức buổi lễ khai trương hiệu thuốc Minh Tâm của S ở thôn 4, xã GB, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Quá trình tổ chức buổi lễ khai trương đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, S có mang ra 01 túi bóng đen bên trong có 01 dây pháo nổ màu đỏ và nói “ai đốt thì đốt”. Thấy vậy, Trần M C cầm túi pháo và cùng Trương Đình H (là bạn của S được mời đến dự buổi lễ khai trương hiệu thuốc) dải ra lòng đường phía trước cửa hiệu thuốc, sau đó Trương Đình H dùng bật lửa đốt dây pháo nổ trong thời gian khoảng 01 phút. Sau đó C và H dọn xác pháo và cho vào 01 túi nilon.

Tại Bản Cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 02-11-2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố các bị cáo Trần Minh S, Trương Đình H và Trần M C về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại pH tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Minh S từ 06 đến 09 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự (Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần M C), xử phạt các bị cáo Trương Đình H và Trần M C mỗi bị cáo từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, không khầu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo H và bị cáo C. Về vật chứng: Không; về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã suy nghĩ và thấy rằng hành vi của mình là sai trái và vi phạm pháp luật. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại pH tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại pH tòa, các bị cáo đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh và khung hình phạt:

Lời khai của các bị cáo tại pH tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Hành vi sáng ngày 14-4-2022 của Trần Minh S đã để ở quầy hiệu thuốc Minh Tâm do mình quản lý 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 dây pháo nổ màu đỏ đen và nói “Ai đốt thì đốt” thì Trương Đình H và Trần M C đã lấy 01 dây pháo dải ra lòng đường phía trước cửa hiệu thuốc Minh Tâm ở thôn 4, xã GB, huyện VB, thành phố Hải Phòng và dùng bật lửa đốt dây pháo nổ trong thời gian khoảng 01 phút đã làm náo động trật tự ở nơi công cộng và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý công cộng, đồng thời gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời là bài học răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về vai trò của các bị cáo: Vụ án tuy có nhiều bị cáo tham gia song giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ khi thực hiện hành vi phạm tội nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Tuy nH, cần đánh giá bị cáo Trần Minh S là người giữ vai trò cao nhất trong vụ án và phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác vì bị cáo S là người đã đưa pháo cho các bị cáo khác dải ra đường để đốt, đối với bị cáo Trương Đình H và Trần M C là người thực hành, giữ vai trò thứ yếu nên cần đánh giá vai trò của 02 bị cáo này là ngang nhau và phải chịu mức hình phạt ngang nhau.

Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong suốt quá trình điều tra truy tố và xét xử nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo S có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo C có ông nội được tặng Kỷ niệm chương Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày nên hai bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở đánh giá về vai trò, nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo đều có nhân thân tốt, lần phạm tội này là lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo này được giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đảm bảo tính giáo dục các bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nH, cần áp dụng khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự buộc 03 bị cáo này phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Về các biện pháp tư pháp: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo Trần Minh S, Trương Đình H và Trần M C bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước trong thời gian chấp hành án. Tuy nH, xét thấy các bị cáo này đều làm nghề tự do, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho 03 bị cáo này.

Về xử lý vật chứng: Không.

Trong khi Trần M C, Trương Đình H dải pháo nổ ra đường thì có Nguyễn Tiến M, sinh năm 1995 ở Nông trường Quý Cao, xã Đại Th, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng có tiến lại gần để xem, sau đó dùng tay cảnh báo để xe ô tô không đi đến gần chỗ đốt pháo để tránh nguy hiểm là hành vi không vi phạm pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo không xử lý M là đúng quy định pháp luật.

Về nguồn gốc dây pháo nổ: Theo bị cáo S trình bày được một người nam giới cho để đốt nhân dịp khai trương quầy thuốc. Tuy nH, S không nhớ ai cho và không nhớ được lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo đã tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Minh S, Trương Đình H và Trần M C đồng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự (Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Minh S và Trầm M C), xử phạt:

- Bị cáo Trần Minh S 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được bản án và quyết định thi hành án.

- Bị cáo Trương Đình H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được bản án và quyết định thi hành án.

- Bị cáo Trần M C 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao các bị cáo Trần Minh S và Trần M C cho Ủy ban nhân dân xã Đại Th, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án.

Giao bị cáo Trương Đình H cho Ủy ban nhân dân phường Tân Thuận Đông, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án.

Căn cứ khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự, buộc các bị cáo Trần Minh S, Trương Đình H và Trần M C phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Huỷ bỏ biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Trần Minh S, Trương Đình H và Trần M C.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Minh S, Trương Đình H và Trần M C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm: Các bị cáo có mặt tại pH tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ