vanban.org

Bản án 56/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 09/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Dương Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Phạt: Dương Văn D 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao Dương Văn D cho Ủy ban nhân dân xã TT, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Dũng - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Dương Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2022/HS-ST
Ngày: 09 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Thị Tâm

2. Ông Lưu Trọng Kim

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Đại D Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2022/TLST-HS, ngày 11 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

Dương Văn D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1978 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: Thôn 4, xã TT, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Chơ Ro; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn TH (đã chết) và bà Võ Thị Ch (đã chết); Vợ: Võ Thị C (đã chết); vợ: Mang Thị S, con có 04 người; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chăn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Bị hại:

- Thổ H1, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn 4, xã TT, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

Người làm chứng:

- Võ Thị L, sinh năm 1978; Thổ T, sinh năm 1996; Thổ L, sinh năm 1985; Cùng nơi cư trú: Thôn 4, xã TT, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Đều có mặt.

- Thổ S, sinh năm 1964; Cùng nơi cư trú: Thôn 4, xã TT, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

- Đặng Thị B, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ 3, thôn 4, xã T2, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/10/2021 Dương Văn D, sinh năm 1978, trú tại thôn 4, xã TT, huyện H, tỉnh Bình Thuận đang ở nhà thì Thổ T, sinh năm 1995; Thổ D, sinh năm 1999 và Võ Văn N, sinh năm 1995, cùng trú tại thôn 4, xã TT, huyện H, tỉnh Bình Thuận mang theo hung khí đến nhà Dương Văn D để tìm Dương Văn Trí (là con ruột Dương Văn D) và Văn Tr (là con rễ của Dương Văn D) để đánh do mẫu thuẫn trước đó. Khi đi đến nhà Dương Văn D nhưng không có Tr1, Tr nên Thổ T, Thổ D, Võ Văn N đã dùng rựa, dao tự chế đánh Dương Văn D gây thương tích. (Sự việc đã được giải quyết trong vụ án khác).

Sau khi bị đánh Dương Văn D đi bộ đến nhà anh rể là Đào Văn D ở gần nhà để tìm con là Dương Văn Tr, Dương Văn L đưa đi bệnh viện điều trị thương tích. Khi đến nhà ông Đào Văn D, Dương Văn D thấy Dương Văn L, Dương Văn Tr và Đào Thanh Th (con ông Đào Văn D) cũng bị nhóm của Thổ T, Thổ D và Võ Văn N đánh gây thương tích.

Dương Văn D cùng một số người đi bộ đến nhà ông Thổ H1, sinh năm 1971, trú tại thôn 4, xã TT, huyện H (là cha ruột của Thổ T và Thổ D) để tìm Thổ T, Thổ D. Khi đến nhà Thổ H1 không có Thổ T, Thổ D ở nhà, Dương Văn D gặp Thổ H1 hai bên nói chuyện với nhau về việc Dương Văn D bị Thổ T, Thổ D chém gây thương tích. Giữa Dương Văn D và Thổ H1 nảy sinh mâu thuẩn nên cãi vã nhau qua lại, Dương Văn D đi ra ngoài sân đất phía trước nhà Thổ H1 lấy một cây gỗ cao su dài khoảng 50cm, đường kính 2,5cm quay lại chổ Thổ H1 đang đứng dùng cây gỗ cầm ở trên tay trái đánh vào chân phải Thổ H1 một cái rồi bỏ đi ra ngoài đường phía trước nhà Thổ H1, bỏ lại cây gỗ ở ven đường và được người thân đưa đi điều trị thương tích. Thổ H1 sau khi bị đánh cũng được đưa đi bệnh viện đa khoa khu vực Nam Bình Thuận điều trị.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 241/2022/TgT, ngày 04/05/2022 của Trung T pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bình Thuận. Kết luận thương tích của Thổ H1:

- Chấn thương cẳng chân phải, gẫy kín 1/3 dưới xương mác đã được điều trị nội khoa, hiện cal xương chưa ổn định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 5%.

- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho ông Thổ H1 hiện tại là: 5%.

- Chấn thương do vật tày gây ra.

- Chấn thương cẳng chân phải có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

Tại Cáo trạng số 57/CT-VKS-HS ngày 11/8/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Dương Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa:

Bị cáo Dương Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Thổ H1 yêu cầu Dương Văn D bồi thường các khoản bao gồm: T chi phí điều trị số T 731.604 đồng; T công lao động và người chăm sóc 02 ngày nằm viện; T thu nhập bị mất 06 tháng là 90.000.000 đồng và T tổn thất tinh thần 6 tháng. Ngoài ra ông H1 không có yêu cầu gì khác. Đối với các khoản yêu cầu, ông H1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

Về điều luật: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố Dương Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Văn D mức án 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng đến 18 tháng.

Về biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Dương Văn D bồi thường cho ông Thổ H1 số T 10.000.000 đồng.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, về trách nhiệm hình sự không có ý kiến tranh luận, về trách nhiệm dân sự bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức bồi thường theo quy định của pháp luật.

Người bị hại không có ý kiến tranh luận. Đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng:

Bị cáo gửi lời xin lỗi người bị hại, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hành vi của bị cáo xuất phát từ mẫu thuẫn giữa các con của bị cáo, cũng như các con của bị hại; Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng Thổ S không có lý do, cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nhưng không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng người làm chứng Thổ S tại phiên tòa là phù hợp Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi và tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại Thổ H1 trình bày ngày 03/10/2021 bị cáo Dương Văn D dùng 01 thanh sắt đánh vào chân phải của ông gây thương tích. Tuy nhiên, theo trình bày của bà Võ Thị L là vợ của ông H1, cũng là người có mặt tại hiện trường và chứng kiến sự việc ngày 03/10/2021 thì chỉ nghĩ, phán đoán là cây sắt chứ không không trực tiếp cầm nắm, không chắc chắn là cây sắt. Theo trình bày của chị Đặng Thị B là con dâu ông H1, cũng là người có mặt tại hiện trường và chứng kiến sự việc ngày 03/10/2021 thì bị cáo D cầm một đoạn cây giống cây típ sắt, chỉ thấy được mờ nên không thấy chính xác được đặc điểm của hung khí mà bị cáo D đánh ông H1. Cả bà L và chị B đều trình bày thời điểm đó, ngoài bị cáo thì còn có rất nhiều người trong đó có Thổ T, Thổ L, Thổ S và những người này cũng cầm hung khí, nhưng không xác định được rõ, sự việc xảy ra nhanh. Trong khi đó, theo lời thừa nhận của bị cáo thì ngày 03/10/2021 bị cáo dùng cây gỗ cao su đánh ông D. Mặc dù quá trình điều tra công an huyện H đã tiến hành truy tìm nhưng không thu thập được hung khí mà bị cáo D dùng đánh ông H1. Tại bản kết luận giám định thương tích số 241/2022/TgT, ngày 04/05/2022 của Trung T pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bình Thuận. Kết luận thương tích của Thổ H1: Chấn thương do vật tày gây ra.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận do bị Thổ T, Thổ D là con ruột ông Thổ H1 và Võ Văn N đánh gây thương tích nên vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03 tháng 10 năm 2021 Dương Văn D đi đến nhà ông Thổ H1 tại thôn 4, xã TT, huyện H để nói chuyện. Trong quá trình đó, giữa Dương Văn D và ông H1, bà Võ Thị L, chị Đặng Thị B có nói, qua lại với nhau thì Dương Văn D đã dùng cây gỗ cao su bằng tay trái, đánh vào cẳng chân phải gây thương tích cho Thổ H1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 5%.

Dương Văn D là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhưng đã sử dụng cây gỗ cao su là hung khí nguy hiểm đánh Thổ H1 gây thương tích là đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể là sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:

Hành vi của Dương Văn D tuy ít nghiêm trọng, nhưng nguy hiểm cho xã hội, coi thương tính mạng, sức khỏe của người khác. Hành vi của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho người dân. Cho nên, cần xem xét hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm để răn đe giáo dục bị cáo thành người biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, trong quá trình Tòa án chuẩn bị xét xử đã tự nguyện giao nộp số tiền 10.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên cần cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xác hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự:

Ông H1 bị thương tích và điều trị từ 09 giờ 40 phút ngày 04/10/2021 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/10/2021 là 02 ngày, theo hồ sơ chi phí điều trị có hóa đơn tự thanh toán là 731.604 đồng; quá trình ông H1 điều trị không đi làm nên mất thu nhập và do bà Võ Thị L (là vợ) trực tiếp chăm sóc. Thương tích của ông H1 ở vùng cẳng chân phải, với tỷ lệ tổn thương cơ thể 5%. Bản thân ông H1 là lao động phổ thông, nên lấy mức thu nhập bình quân tại địa phương 250.000đồng/ngày. Sau khi bị thương tích tinh thần bị tổn thất, do đó chấp nhận các khoản sau:

Chi phí điều trị có hóa đơn: Số T 731.604 đồng;

Tiền công lao động và người chăm sóc: 2 ngày x 250.000 đồng/người/ngày x 02 người = 1.000.000 đồng;

Tiền thu nhập bị mất: 3 tháng (26 ngày/tháng) x 250.000 đồng/ngày = 19.500.000 đồng;

Tổn thất tinh thần: 6 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 8.940.000 đồng.

Tống số tiền được chấp nhận là 30.171.604 đồng.

Đối với số tiền 10.000.000 đồng Dương Văn D đã nộp theo biên lai thu thu số 0002756, ngày 29/8/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: Qúa trình điều tra không thu giữ được nên không xem xét.

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong điều tra, truy tố:

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Dương Văn D Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện H được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định. Đối với án phí dân sự sơ thẩm do bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 10.000.000 đồng để bồi thường, nên bị cáo chỉ phải chịu án phí dân sự đối với số thi còn phải thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; các Điều 293, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Các Điều 357, 468; khoản 1 Điều 584; Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các điểm a, c, g khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

2. Tuyên bố: Dương Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Phạt: Dương Văn D 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Dương Văn D cho Ủy ban nhân dân xã TT, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về biện pháp tư pháp:

Buộc Dương Văn D phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Thổ H1 số tiền 30.171.604 đồng (Ba mươi triệu một trăm bảy mươi mốt ngàn sáu trăm lẽ bốn đồng). Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) mà Dương Văn D đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002756, ngày 29/8/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H để đảm bảo thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí:

Buộc Dương Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.008.580 đồng (Một triệu không trăm lẽ tám ngàn năm trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ