vanban.org

Bản án 56/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Huệ, tỉnh Long An Tuyên án 18/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

32, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Các Điều 299, 326, 327 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thanh P "Vận chuyển hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2022/HS-ST
Ngày: 18 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Chài.

Bà Thi Thị Ngọc Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức

Huệ, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 10

năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2022/QĐXXST-HS ngày 02

tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Đoàn Thanh P, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1973; tại Long An; Nơi cư trú:

Ấp 3, xã B, huyện Đ, tỉnh L; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân

tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn

Văn Q và bà Bùi Thị C; có vợ là Trần Thị P1, sinh năm 1978 vào có 01 con chung;

tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2022 đến

ngày 16/9/2022 cho gia đình bảo lĩnh tại ngoại. (Có mặt)

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn K - Sinh năm 1996 - Địa chỉ: Ấp 2, xã

B, huyện Đ, tỉnh L. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Đoàn Thanh P có quen biết ngoài xã hội với người đàn ông tên M (thường

gọi là M T nhà ở xã T, huyện T), sáng ngày 21/6/2022 M điện vào số điện thoại

0812829978 của P và thuê P điều khiển xuồng máy vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ kênh Kiến Vàng thuộc ấp 4, xã B đến địa phận huyện T với tiền công 300.000 đồng/chuyến, do cần tiền tiêu xài nên P đồng ý. M kêu P đến cặp kênh trước nhà của P sẽ có xuồng máy đậu sẵn, P sẽ điều khiển xuồng máy này đến kênh Kiến Vàng để nhận thuốc lá và chở về hướng Thủ Thừa, M sẽ chỉ địa điểm giao thuốc lá sau.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, P nhìn thấy có một người đàn ông (không xác

định được nhân thân) điền khiển 01 xuồng Composite nhãn hiệu TCB, màu xanh có gắn 01 máy nổ hiệu HONDA 20.0, màu đỏ đến đậu trước kênh nhà P và người này bỏ đi, P biết xuồng máy ngày là M giao cho P để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Thực hiện theo hướng dẫn của M, P điều khiển xuồng máy từ nhà thuộc ấp 3, xã Bg theo đường kênh 61, khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày thì đến đoạn kênh Kiến Vàng thuộc ấp 4, xã Bình Hòa Hưng, tại đây P gặp một người đàn ông điều khiển xuồng máy đến hỏi phải tên P, nhận thuốc cho “anh M” không, P xác nhận đúng, người này chuyển 3.000 bao thuốc lá sang xuồng máy do P điều khiển. Sau đó, người đàn ông trên đi khỏi, P điều khiển xuồng máy chở thuốc lá điếu nhập lậu chạy trên kênh Kiến Vàng về hướng huyện T, nhưng đi được khoảng 05 phút đến địa phận ấp 4, xã B, huyện Đ, tỉnh L thì bị lực lượng Công an huyện Đức Huệ bắt quả tang và thu giữ tang vật liên quan.

Tang vật tạm giữ quả tang gồm:

- 3.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 1.500 bao nhãn hiệu HERO, 1.000

bao nhãn hiệu JET và 500 bao nhãn hiệu SCOTT).

- 01 xuồng nhựa Composite, màu xanh, nhãn hiệu TBC.

- 01 máy nổ nhãn hiệu Honda 20.0, màu đỏ - đen.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xám, gắn sim số 0817379278

và 0812829978.

Đối với 01 xuồng nhựa Composite, màu xanh, nhãn hiệu TBC và 01 máy nổ

nhãn hiệu Honda 20.0, màu đỏ - đen là phương tiện Đoàn Thanh P dùng để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu vào ngày 21/6/2022 P khai nhận không phải là tài sản của P mà của người tên M T đậu sẵn trước kênh để P làm phương tiện vận chuyển thuốc lá cho M T, do vậy Đoàn Thanh P không xác định được nguồn gốc của phương tiện này. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành thông báo truy tìm chủ sở hữu đối với xuồng máy trên nhưng quá thời hạn không xác định được chủ sở hữu hợp pháp.

Cáo trạng số: 49/CT-VKSĐH ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Viện Kiểm sát

nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Đoàn Thanh P về tội “Vận chuyễn hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ vẫn giữ

nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, sau khi phân tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Căn cứ: điểm e khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 32,

Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh P từ 02 năm 06 tháng đến 03

năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm.

Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ

luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với 3.000 bao thuốc lá điếu (trong đó: 1.500 bao nhãn hiệu HERO,

1.000 bao nhãn hiệu JET và 500 bao nhãn hiệu SCOTT) là thuốc lá nhập lậu,

không có hóa đơn chứng từ xuất sứ hàng hóa, không thông qua khai báo thuế, là

mặt hàng Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển nên đề nghị tich thu tiêu

hủy.

- Đối với 01 xuồng nhựa Composite, màu xanh, nhãn hiệu TBC; 01 máy nổ

nhãn hiệu Honda 20.0, màu đỏ - đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu

xám, gắn sim số 0817379278 và 0812829978 đã qua sử dụng, xác định là phương

tiện của bị cáo sử dụng thực hiện tội phạm nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách.

Tang vật do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.

Đối với người đàn ông mà bị cáo Đoàn Thanh P gọi là “anh M T” có hành vi

thuê P vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu vào ngày 21/6/2022. Cơ quan Cảnh sát

điều tra Công an huyện Đức Huệ tiến hành xác minh tại Công an xã T, huyện T xác

định có người tên thường gọi là M T có tên là Nguyễn Văn M, sinh năm 1978, hộ

khẩu thường trú: Ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

huyện Đức Huệ mời làm việc đối với Nguyễn Văn M và xác minh tại địa phương

nhưng Công an xã Tân Long trả lời kết quả hiện không rõ Nguyễn Văn M đang ở

đâu và làm gì, không mời làm việc được, không đủ cơ sở để buộc tội, Cơ quan

Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ tiến hành xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với những người giao nhận thuốc lá điếu nhập lậu cho Đoàn Thanh P

vận chuyển vào ngày 21/6/2022, do không xác định được nhân thân lai lịch của

những người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo biết

việc làm là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, hứa không tài phạm, xin giảm nhẹ

hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều

tra, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và cáo trạng của Viện kiểm sát

truy tố bị cáo đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành

vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên đều thực hiện đúng và hợp pháp. Những

chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát thu thập là hợp

pháp.

Khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 21/6/2022, Đoàn Thanh P nhận lời vận

chuyển thuốc lá thuê cho một người chỉ biết tên M T nên đã thực hiện hành vi điều khiển xuồng máy vận chuyển 3.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 1.500 bao nhãn hiệu HERO, 1.000 bao nhãn hiệu JET và 500 bao nhãn hiệu SCOTT) từ đoạn kênh thuộc địa phận ấp 4, xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ đến huyện Thủ Thừa với tiền công là 300.000 đồng/chuyến. Khi Đoàn Thanh P điều khiển xuồng máy chở thuốc lá điếu nhập lậu đến đoạn kênh Kiến Vàng thuộc ấp 4, xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật.

Tại phiên toà, bị cáo Đoàn Thanh P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm

tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Đức Huệ, tỉnh Long An lập lúc 10 giờ 45 phút, ngày 21/6/2022 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó, đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Đoàn Thanh P phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng số: 49/CT-VKS-ĐH ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Đoàn Thanh P với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo Đoàn Thanh P là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh

hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bị cáo là người đã thành niên thực hiện với lỗi cố ý là do ham thu lợi nên từ đó bị cáo nhận lời vận chuyển 3000 bao thuốc lá, không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa, từ khu vực ấp 4, xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ về huyện Thủ thừa. Số lượng thuốc lá vận chuyển bằng định lượng khởi điểm (3000 bao). Hành vi này của bị cáo P phải được xử lý nghiêm. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

Ngoài hình phạt chính ra cần áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4

Điều 191 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Xét thấy, bị cáo Đoàn Thanh P trong quá trình truy tố và xét xử thật thà

khai báo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao đông chính trong gia đình (qua xác nhận của chính quyền địa phương) là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo

Đoàn Thanh P là có cơ sở theo quy định pháp luật.

Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật

Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với 3.000 bao thuốc lá điếu (trong đó: 1.500 bao nhãn hiệu HERO,

1.000 bao nhãn hiệu JET và 500 bao nhãn hiệu SCOTT) là thuốc lá nhập lậu, không

có hóa đơn chứng từ, không thông qua khai báo thuế, là mặt hàng Nhà nước cấm sản

xuất, buôn bán, vận chuyển nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xuồng nhựa Composite, màu xanh, nhãn hiệu TBC; 01 máy nổ

nhãn hiệu Honda 20.0, màu đỏ - đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu

xám, gắn sim số 0817379278 và 0812829978 đã qua sử dụng, xác định phương tiện

của bị cáo sử dụng thực hiện tội phạm nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo chưa thu được lợi nhuận nên không đề cập thu hồi lại.

Tang vật hiện do chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.

Đối với những người giới thiệu, người giao nhận thuốc lá cho bị cáo,

cùng một số người khác mua hàng cấm không xác định được nhân thân, lai lịch, địa

chỉ, không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục thẩm tra, xác minh đề

xuất xử lý sau, nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp. Nhằm không bỏ

lọt tội phạm, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh để xử lý sau theo

qui định của pháp luật.

Bị cáo Đoàn Thanh P phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Căn cứ: điểm e khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều

32, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Các Điều 299, 326, 327 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án

treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 18/11/2022).

Giao bị cáo Đoàn Thanh P về Ủy ban nhân dân xã Bình Hòa Hưng, huyện

Đức Huệ, tỉnh Long An theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án

treo.

Trong thời gian thi hành án treo bị cáo Đoàn Thanh P có 02 lần vi phạm

nghĩa vụ của án treo thì chuyển hình phạt tù cho hưởng án treo sang hình phạt tù có

thời hạn.

Trường hợp bị cáo Đoàn Thanh P thay đổi nơi cư trú thì giải quyết theo Điều

92 Luật thi hành án hình sự.

Áp dụng: khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Phạt bổ sung bị cáo Đoàn

Thanh P 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

- Về xử lý vật lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ

luật Tố tụng Hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 3000 bao thuốc lá điếu nhập lậu theo quy định hiện hành

(gồm: 1.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, 1.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET và 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT).

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xuồng nhựa Composite, màu

xanh, nhãn hiệu TBC; 01 máy nổ nhãn hiệu Honda 20.0, màu đỏ - đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xám, gắn sim số 0817379278 và 0812829978 đã qua sử dụng.

Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đoàn Thanh P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án

phí hình sự sơ sung vào công quỹ Nhà nước.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15

ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 18/11/2022).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Cỡ chữ