vanban.org

Bản án 56/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 13/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: tuyên bố bị cáo Trần Việt N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về hình phạt: xử phạt bị cáo Trần Việt N 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng. (Tài sản đảm bảo để thi hành án là số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng theo biên lai thu số 0003857 ngày 17-7-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Việt Nam - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: tuyên bố bị cáo Trần Việt N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2022/HS-ST
Ngày 13- 7- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN

DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Tham phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Hùng.

Các Hội tham nhân dân: ông Huỳnh Thanh Nhàn;

Bà Nguyễn Thị Thu Ba.

- Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Thanh Hải- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Võ Hoàng Nhân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Việt N, sinh năm 1980; Nơi đăng ký KHTT: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Chỗ ở hiện nay: số 7B/57, đường T, Phường H, Quận P, Tp. Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt N; con ông Trần Bình Đ và bà Lâm Thị Ngọc H; có vợ: Nguyễn Thị Thu L và 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ 13-4-2022 đến ngày 29-4-2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng bảo lãnh. (có mặt)

Bị hại:

1. Lâm Trung C, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

2. Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 7/2021, do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp nên Trần Việt N và vợ là chị Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1987, ngụ phường H, Quận P Thành phố Hồ Chí Minh cùng về nhà mẹ ruột chị L là bà Trần Thị D, sinh năm 1960, ngụ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh để tránh dịch. Sống chung tại nhà bà D còn có vợ chồng anh Lâm Trung Ch, sinh năm 1992 và chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1996, cùng ngụ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (chị H là em ruột của chị L). Vào khoảng 19 giờ ngày 31/7/2021, tại nhà bà D, do giữa con của N và con của anh Chánh chọc ghẹo nhau nên giữa N và anh Chánh xảy ra mâu thuẫn, xô xát lẫn nhau thì được can ngăn, không ai bị thương tích gì. Sau đó, do không muốn tiếp tục mâu thuẫn nên vợ chồng anh C, chị H bỏ đi về nhà mẹ ruột anh C tại ấp, xã T, huyện C. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, N bực tức sự việc xô xát với anh C nên đã đi vào phòng ngủ của vợ chồng anh C rồi dùng tay kéo đồ đạc trên bàn xuống nền nhà làm hư 01 bình đun nước bằng điện hiệu Moaz MB012 của vợ chồng anh C, N đi ra phía sau nhà lấy 01 cục sắt có kích thước 08x10x01cm, khối lượng 2,35kg rồi đi vào đập nhiều cái vào mặt đồng hồ công tơ mét, phần đầu xe, bên hông phải xe mô tô hiệu Honda, loại SH150i, biển số 70D1-309.91 của chị H làm hư hỏng, N tiếp tục cầm cục sắt đi ra phòng khách đập nhiều cái trúng vào phần nhựa mặt nạ, mặt đồng hồ công tơ mét, bên hông phải xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 2010 biển số 70P1-7489 của anh C làm hư hỏng. Sau khi sự việc xảy ra, giữa hai gia đình tự giải quyết thỏa thuận với nhau nhưng không thành. Đến ngày 07/12/2021, anh C, chị H có đơn yêu cầu xử lý hành vi của N gửi đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 04 ngày 20/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH150i, biển số 70D1-039.91, tổng trị giá thiệt hại 4.600.000 đồng; xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 2010, biển số 70P1-7489, tổng trị giá thiệt hại 4.080.000 đồng và 01 bình đun nước bằng điện hiệu Moaz MB012, trị giá thiệt hại 1.033.000 đồng. Tổng trị giá các tài sản bị thiệt hại là 9.713.000 đồng.

Quá trình điều tra, Trần Việt N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số: 44/CT-VKSCT ngày 24 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo N về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh nêu trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Việt N từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đồng ý bồi thường như bị hại yêu cầu nên ghi nhận.

Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về bào chữa: bị cáo thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến bào chữa cho mình.

Về lời nói sau cùng: bị cáo biết lỗi và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, chứng minh được như sau: vào khoảng 19 giờ 50 phút, ngày 31/7/2021, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, sau khi xảy ra mâu thuẫn đánh nhau với anh Lâm Trung C, Trần Việt N vào phòng ngủ của vợ chồng anh C, chị H rồi dùng tay kéo đồ đạc trên bàn xuống nền nhà làm hư hỏng 01 bình đun nước và dùng 01 cục sắt đập phá làm hư hỏng 01 xe mô tô hiệu Exciter biển số 70P1-7489 của anh C và 01 xe mô tô hiệu SH biển số 70D1-309.91 của chị H.

Theo Kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, thiệt hại do bị cáo gây ra cho bị hại tổng cộng là 9.713.000 đồng.

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Việt N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét đến nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

Về áp dụng hình phạt: xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng thi hành án nên Hội đồng xét xử xét thấy xử phạt bị cáo hình phạt tiền, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội vẫn đảm bảo giáo dục, cải tạo đối với bị cáo cũng như đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: tiền khắc phục thiệt hại thực tế đối với xe SH của chị H là 12.000.000 đồng, đối với xe Exciter của anh C là 5.200.000 đồng và bị cáo đã bồi thường cho các bị hại như yêu cầu trước khi mở phiên tòa nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: áp dụng 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng như sau: 01 khối kim loại tròn, rỗng kích thước cao 08 cm, mặt rộng nhất có đường kính 10cm, mặt hẹp nhất có đường kính 08cm, độ dầy 01 cm, khối lượng 2,35kg; 01 cụm đồng hồ công tơ mét xe SH bị bể; 01 đầu đèn chiếu sáng phía trước xe SH bị bể. Trong đó, khối kim loại là công cụ bị cáo dùng để thực hiện phạm tội và cụm đồng hồ, đèn chiếu sáng bị bể là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự.

1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Trần Việt N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Trần Việt N 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

(Tài sản đảm bảo để thi hành án là số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng theo biên lai thu số 0003857 ngày 17-7-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh)

3. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho các bị hại xong và bị hại không yêu cầu gì khác.

4. Về vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 khối kim loại tròn, rỗng kích thước cao 08 cm, mặt rộng nhất có đường kính 10cm, mặt hẹp nhất có đường kính 08cm, độ dầy 01 cm, khối lượng 2,35kg; 01 cụm đồng hồ công tơ mét xe SH bị bể; 01 đầu đèn chiếu sáng phía trước xe SH bị bể. (Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29-6-2022).

5. Án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ