vanban.org

Bản án 56/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước Tuyên án 18/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ GIA MẬP
TỈNH BÌNH PHƯỚC
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2022/HS-ST
Ngày: 18-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Điểu Thanh

2. Ông Trần Quang Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào –Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Dương Mỹ Hùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1985; nơi sinh: Đồng Nai; địa chỉ: Khu phố 5, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Xuân A (đã chết) và bà H Thị Bích L, vợ Bùi Thị B (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/9/2022 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Bà Phạm Thị Bích N, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Đình G, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 7, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước

Bà H Thị Bích L, sinh năm 1958 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 5, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước

* Người làm chứng:

Ông Mai Xuân C, sinh năm 1961 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 2, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/7/2022, sau khi uống rượu ở Hội chợ Đăk Ơ xong, Nguyễn Xuân H đi dạo trên đoạn đường quốc lộ 14C thuộc thôn L, xã Đ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Khi đi ngang qua cổng trường mầm non xã Đăk Ơ thì H thấy cổng trường không khóa, liền đẩy cổng rồi đi vào trong sân trường. Khi đến khu vực nhà vệ sinh của tập thể giáo viên thì H phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 53Y3-7593 của Phạm Thị Bích N (nhân viên phục vụ Trường mầm non) đang dựng bên hông nhà vệ sinh, chìa khóa vẫn cắm trong ổ khóa xe. H nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên để bán lấy tiền tiêu xài, H liền đi đến dắt xe mô tô ra ngoài đường, đạp nổ máy xe, điều khiển xe về nhà mình ở khu phố 7, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Đến sáng ngày 07/7/2022, H điều khiển xe mô tô đến nhà Nguyễn Đình H ở khu phố 1, phường L và nhờ Nguyễn Đình H đem xe đi cầm cố lấy tiền tiêu xài thì Nguyễn Đình H đồng ý. Nguyễn Đình H dẫn H đến nhà Mai Xuân C ở khu phố 2, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước cầm xe mô tô trộm cắp được với số tiền 1.000.000 đồng. H lấy số tiền này tiêu xài vào việc cá nhân. Khoảng 05 ngày sau, Nguyễn Đình H đem tiền đến trả cho Mai Xuân C rồi đem xe mô tô về làm phương tiện đi lại. Ngày 16/7/2022 Nguyễn Đình H biết xe mô tô là do Nguyễn Xuân H phạm tội mà có nên đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Gia Mập để phục vụ công tác điều tra.

Sau khi phát hiện bị mất xe mô tô, ngày 15/7/2022 Bà Phạm Thị Bích N đã đến Công an xã Đăk Ơ trình báo vụ việc. Ngày 16/7/2022, Công an xã Đăk Ơ chuyển tòa bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Gia Mập để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20 ngày 22/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bù Gia Mập kết luận: Tại thời điểm ngày 06/7/2022 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 53Y3-7593 có giá trị 4.500.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, xác định không oan và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bản cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 09 đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 53Y3-7593 là chiếc xe của Bà Phạm Thị Bích N đã bị Nguyễn Xuân H trộm cắp, xe không có giấy tờ hợp lệ, cơ quan điều tra đang xác minh nguồn gốc nhưng chưa có kết quả. Do đó cơ quan điều tra đã tách chiếc xe mô tô để tiếp tục xác minh, xử lý sau nên Viện kiểm sát không đề cập xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Bù Gia Mập, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, Kiểm sát viên tham gia quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, như: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 06/7/2022 bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xem mô tô màu xanh, nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 53Y3-7593 của người bị hại Phạm Thị Bích N, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 4.500.000 đồng. Đối chiếu hành vi nêu trên của bị cáo với những quy định của pháp luật hiện hành thì hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân H đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản là khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, ảnh hưởng đến đời sống lành mạnh của cộng đồng dân cư, bị cáo là người thiếu ý thực chấp hành pháp luật, coi thường tài sản của người khác, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bà Liên và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đại điện Viện kiểm sát đề nghị xử lý tang vật và không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Đối với đối tượng Nguyễn Đình H và Mai Xuân Cảnh là người chỉ dẫn và cầm cố xe mô tô mà Nguyễn Xuân H trộm cắp được. Tuy nhiên, H và Cảnh không biết nguồn gốc xe mô tô mà bị cáo H đem đi cầm cố là do phạm tội mà có, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Gia Mập không khởi tố về tội tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 53Y3-7593 là của Bà Phạm Thị Bích N mua lại của một người không rõ nhân thân, lai lịch, xe không có giấy tờ hợp lệ, cơ quan điều tra đang điều tra xác minh nguồn gốc, người đứng tên chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách ra để xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xử lý.

. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Bà Phạm Thị Bích N, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ông Nguyễn Đình G, bà Hoàng Thị Bích L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam 21/9/2022.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ