vanban.org

Bản án 56/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 28/04/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến C cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Chiến - Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2022/HS-PT
Ngày: 28- 4 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Ngân; ông Bùi Quang Năng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 40/2022/ TLPT - HS ngày 11 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Tiến C do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2022/HS-ST ngày 28/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Tiến C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 07 tháng 07 năm 1997 tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Nam Tiến, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Bá T (Đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị N; Anh chị em ruột: có 04 người (bị cáo là con thứ tư); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ từ ngày 19/12/2021 đến ngày 25/12/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng pháo vào dịp Tết Nguyên Đán năm 2022 và dịp lễ cưới sắp diễn ra của mình cũng như làm quà tặng cho người thân để chơi Tết nên vào đầu tháng 12 năm 2021 C sử dụng điện thoại nhãn hiệu HUAWEI EMUI gắn sim số 0981560511 đăng nhập vào tài khoản Facebook của mình có tên “Tiến C Nguyễn” để tìm kiếm ở mạng xã hội có ai bán pháo không. Tìm được một nhóm facebook (mà đến nay C không nhớ tên nhóm) có đăng thông tin bán pháo hoa không cần đặt cọc, C nhấn tham gia vào nhóm và được quản trị nhóm chấp nhận. C truy cập vào trang cá nhân facebook của quản trị viên nhóm thì thấy có đăng tải nhiều thông tin về việc bán pháo và kèm theo số điện thoại để liên lạc. C sử dụng điện thoại của mình gọi theo số điện thoại ở bài viết thì có giọng nói của một người đàn ông nghe máy, C hỏi “có phải trang mua, bán pháo không” thì người này tắt máy. Khoảng 02 đến 03 phút sau có một số điện thoại lạ gọi vào điện thoại của C. C nghe máy thì bên kia giọng một người đàn ông hỏi “Ai đây”, C hỏi lại “Đây có phải là trang mua bán pháo không”. Người đàn ông này nói “Bạn ở đâu và mua bao nhiêu pháo”. C trả lời ở huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cần mua khoảng 15 đến 20 khối pháo. Người này nói lại với C “khoảng hai đến ba ngày sau anh có chuyến đi qua đó, khi nào anh gọi thì chuẩn bị tiền mà lấy” đồng thời nói mỗi khối pháo có giá 900.000 đồng. Sáng ngày 18/12/2021, C đang ở nhà thì có số điện thoại lạ gọi vào điện thoại của C. C nghe máy thì thấy giọng một người đàn ông nói “lấy ở đâu Kỳ Anh”. C trả lời “ở Liên Sơn gần ngã ba Voi”. Người đàn ông này nói với C khoảng 14 đến 15 giờ đến dốc Liên Sơn để lấy pháo. Khoảng hơn 14 giờ cùng ngày có một số điện thoại lạ gọi vào điện thoại của C và bảo chuẩn bị tiền đến dốc Liên Sơn để lấy pháo. C lấy 20.000.000 đồng tiền vốn dùng để buôn bán hàng tạp hóa bỏ vào túi quần đang mặc rồi một mình đi bộ đến dốc Liên Sơn thuộc xã Kỳ Phong, huyện K (cách nhà C khoảng 700m) và đứng ở lề đường bên phải Quốc lộ 1A hướng từ Nam ra Bắc nơi ngã ba giao nhau để đợi nhận pháo. Khoảng 15 phút sau có số điện thoại lạ gọi vào điện thoại của C, cùng lúc đó C thấy có một xe ô tô tải đông lạnh loại 3,5 tấn đang di chuyển chậm trên tuyến Quốc lộ 1A hướng ra Bắc. Đoán được đó là xe giao pháo nên C vẫy tay ra tín hiệu thì lái xe cho xe di chuyển vào sát lề đường nơi C đang đứng rồi dừng lại. Từ trên xe bên ghế phụ một người đàn ông lạ mặt, cao khoảng 1,5m, mặc áo len màu đen và quần bò lửng màu xanh, đeo khẩu trang che mặt, độ tuổi từ 30 đến 40 tuổi bước xuống và nói với C có 17 khối pháo bán cho C. C lấy 15.300.000 đồng trả cho người này. Sau khi nhận tiền, người đàn ông mở cửa hông bên phải thùng xe rồi trèo lên bê xuống một thùng xốp màu trắng được dán kín bằng băng dán màu vàng. C tin tưởng trong thùng xốp chứa pháo nên nhận rồi bê về cất giấu tại gác xép của nhà mình. Chiều tối cùng ngày, C vào gác xép mở thùng xốp ra kiểm tra thì thấy bên trong thùng có chứa 17 khối pháo. C xếp số pháo vào ba thùng cát tông, trong đó một thùng 09 khối, hai thùng còn lại mỗi thùng 04 khối rồi tiếp tục cất giấu ở gác xép, còn thùng xốp C để lẫn với các thùng hàng trong nhà của C. Khoảng hơn 23 giờ ngày 19/12/2021, C lấy một thùng cát tông chứa 04 khối pháo để đưa đi cho Nguyễn Tiến Công, bạn của C. Khi C đang bê thùng cát tông chứa 04 khối pháo đứng trước cửa nhà thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2022/HS-ST ngày 28/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến C 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/12/2021 đến ngày 25/12/2021.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 08/02/2022 bị cáo Nguyễn Tiến C kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tiến C vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Do đó bản án hình sự sơ thẩm số 04/2022/HS-ST ngày 28/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hà Tĩnh quyết định tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về pháo nổ và làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn; Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mới mức án 09 tháng tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình triều tra, truy tố, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bố là người có công với cách mạng được nhà nước tặng Huy chương C sỹ giải phóng, gia đình neo đơn, vợ không có việc làm, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn được Ủy ban nhân dân xã K xác nhận, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo được sửa đổi lỗi lầm dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình mà không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cũng đủ nghiêm.

Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

các trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến C, sửa bản án hình sự sơ thẩm 04/2022/HS-ST ngày 28/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến C 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến C cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Nguyễn Tiến C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ