- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Triệu Thị V và Trương Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2022/HNGĐ-ST Ngày 28 - 6 - 2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Quỳnh.
Các hội thẩm nhân dân:
1, Ông Trương Xuân Vũ;
2, Bà Hà Thị Thoan.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
Đại diện V kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Phương, Kiểm sát V.
Ngày 28 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 257/2021/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2021 về việc ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2022/TB-TA ngày 15 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Triệu Thị V, sinh năm 1994
Trú tại: Thôn Ng, xã B, huyện Y, tỉnh Y; Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Trương Văn T, sinh năm 1992
Trú tại: Thôn S, xã Tr, huyện L, tỉnh Y; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 12 năm 2021 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Triệu Thị V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị V và anh Trương Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện L tỉnh Yên Bái ngày 25 tháng 02 năm 2013. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong việc nuôi dạy con chung, anh T quan hệ ngoại tình. Chị V và anh T hiện tại sống ly thân, không quan tâm đến nhau nữa. Chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh Trương Văn T.
Về con chung: Chị V và anh T có hai con chung, con lớn Trương Đức Hiệp, sinh ngày 27-8-2011; con nhỏ Trương Thùy Thanh Vân, sinh ngày 25-12-2016 con lớn hiện đang ở với anh T, con nhỏ đang ở cùng chị V, khi ly hôn chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh T mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng 1 con chung, chị nuôi dưỡng con Trương Thùy Thanh Vân, anh T nuôi dưỡng con Trương Đức Hiệp không yêu bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và tiến hành phiên hoà giải nhiều lần, nhưng anh T không có mặt, Tòa án đã lập biên bản không hòa giải được. Tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa đại diện V kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên phát biểu ý kiến đối với Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định về tố tụng, nguyên đơn có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, anh Tvắng mặt chưa hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ kiện.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị V được ly hôn với anh T. Về con chung, căn cứ điều kiện về chỗ ở, thu nhập yêu cầu của chị V, nguyện vọng của con chung. Giao cho chị V là người trực tiếp nuôi con chung Trương Thùy Thanh Vân, anh T nuôi dưỡng con chung Trương Đức Hiệp không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Toà án thụ lý và giải quyết vụ án xác định mối quan hệ pháp luật vụ án ly hôn, theo đơn khởi kiện của chị Triệu Thị V, do bị đơn anh T có hộ khẩu thường trú tại thôn Sài Lớn, xã Trung Tâm, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Căn cứ quan hệ pháp luật và thẩm quyền theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái có thẩm quyền giải quyết.
Tòa án xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 do anh T được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt không có ly do.
Đối với quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị V và anh Trương Văn T kết hôn năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Tâm, huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái. Việc kết hôn này tuân thủ đúng các quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này qua lời khai của chị V, do quan điểm sống không phù hợp mỗi người một tính cách, anh T đi làm ăn xa ít quan tâm đến vợ con. Do đó chị V và anh T đã sống ly thân.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cung nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Trên thực tế vợ chồng chị V, anh T thường xảy ra mâu thuẫn, anh T có quan hệ với người phụ nữ khác. Vợ chồng đã sống ly thân là đúng thực tế, căn cứ biên bản xác minh ngày 16 tháng 5 năm 2022 tại thôn Sài Lớn, xã Trung Tâm, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị V và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử, xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị V được ly hôn với anh Trương Văn T.
Về con chung: Chị V và anh T có hai con chung, con lớn Trương Đức Hiệp, sinh ngày 27-8-2011; con nhỏ Trương Thùy Thanh Vân, sinh ngày 25-12-2016 con lớn hiện đang ở cùng anh T, con nhỏ ở cùng chị V, khi ly hôn chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được nuôi con nhỏ Trương Thùy Thanh Vân, anh T nuôi con lớn Trương Đức Hiệp không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Căn cứ thu nhập hiện tại chị V và anh T làm nghề tự do, đều có thu nhập trung bình hằng tháng khoảng 6.000.000,đ (Sáu triệu) đồng, điều kiện chỗ ở ổn định, chị V có yêu cầu được nuôi con chung Trương Thùy Thanh Vân, anh T nuôi con lớn Trương Đức Hiệp là phù hợp với nguyện vọng của con chung, các quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị V được nuôi con chung. Do chị V không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung và công nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Phát biểu của Kiểm sát V về nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Triệu Thị V phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị V được ly hôn với anh Trương Văn T.
2. Về con chung: Chị Triệu Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trương Thùy Thanh Vân, sinh ngày 25-12-2016; anh Trương Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trương Đức Hiệp, sinh ngày 27-8-2011 đến khi hai con chung đủ 18 tuổi. Chị V, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị V anh T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh chị thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị Triệu Thị V phải nộp 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai số: AA/2021/0002138 ngày 28-12-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị V đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm chị V, anh T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Huyện; - Thi hành án dân sự Huyện; - UBND xã Trung Tâm; - Các đương sự; - Lưu HS,T.A,THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đỗ Quỳnh |