- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Nguyễn Thị C và anh Đỗ Trọng T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Ch được ly hôn ông Đỗ Trọng Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30-12-2022 V/v: Tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Chắt và ông Đỗ Trọng Thừa |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ , TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Huyền;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Láng;
2. Bà Nguyễn Thị Nhiễu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tho - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vũ Thư xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 234/2022/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXX - ST ngày 06 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2022/QĐST - HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
1.1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1950;
Địa chỉ: Tổ dân phố Đông S, thị trấn Tiền H, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
1.2. Bị đơn: Ông Đỗ Trọng Th, sinh năm 1940;
Địa chỉ: Thôn Phương C, xã Hiệp H, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
(Bà Ch có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Th vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 10 năm 2022, bản tự khai đề ngày 11 tháng 11 năm 2022 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ch trình bày:
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đỗ Trọng Th kết hôn tự nguyện, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình vào ngày 28 tháng 8 năm 2000 trong điều kiện người vợ trước của ông Th đã chết. Sau khi kết hôn, bà và ông Th chung sống được khoảng 09 tháng thì đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng thường xuyên xảy ra bất hòa, cãi chửi nhau. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và những mâu thuẫn ngày một trở nên căng thẳng nên bà đã về thị trấn Tiền Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình sinh sống từ khoảng cuối năm 2001 đến nay. Bà và ông Th sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm gì đến cuộc sống của nhau tính đến nay đã hơn 20 năm. Bản thân bà xác định vợ chồng không thể đoàn tụ để tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Đỗ Trọng Th.
1.2 Về con chung: Bà và ông Th không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.3 Về tài sản: Bà và ông Th không có tài sản chung, không có khoản nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Ông Đỗ Trọng Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt theo yêu cầu của Tòa án, cũng không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện quan điểm của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ch.
3. Tại Biên bản xác minh ngày 30 tháng 11 năm 2022, Ủy ban nhân dân xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư cung cấp: Sau khi kết hôn, bà Ch và ông Th chung sống được một thời gian rất ngắn thì đã xảy ra mâu thuẫn. Địa phương không nắm được cụ thể về lý do mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Ch và ông Th. Tuy nhiên, bà Ch đã không còn chung sống với ông Th kể từ thời điểm cuối năm 2001 đến nay. Đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn ông Th của bà Ch, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Bà Ch và ông Th không có con chung.
Về tài sản: Theo địa phương nắm được: Bà Ch, ông Th không có tài sản chung; không vay nợ chung cơ quan, tổ chức xã hội nào của địa phương.
* Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Vũ Thư phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán và HĐXX, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định; Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 đề nghị: Xử cho bà Nguyễn Thị Ch được ly hôn ông Đỗ Trọng Th; Về con chung: Bà Ch và ông Th không có con chung nên không đặt ra giải quyết; Về tài sản: Do bà Ch không yêu cầu và không có quan điểm của ông Thừa nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Bà Chắt phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
1.Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Ch có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông Đỗ Trọng Th có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại thôn Phương Cáp, xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnhThái Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Nguyên đơn có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
2.Về nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ch và ông Đỗ Trọng Th đăng ký kết hôn tại UBND xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình ngày 28 tháng 8 năm 2000 là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp. Qua lời khai của bà Ch và qua xác minh tại UBND xã Hiệp Hòa, nhận thấy: Bà Ch và ông Th chung sống được một thời gian rất ngắn thì đã xảy ra mâu thuẫn. Hai bên sống ly thân nhau, mỗi người một nơi tính đến nay đã hơn 20 năm nhưng hai bên không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bản thân bà Ch cho rằng vợ chồng không thể đoàn tụ để tiếp tục chung sống được nữa. Ông Th không đến Tòa án làm việc, cũng không có văn bản giao nộp cho Tòa án thể hiện nguyện vọng mong muốn vợ chồng đoàn tụ.
Xét thực trạng quan hệ vợ chồng của bà Ch và ông Th đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để xử cho bà Nguyễn Thị Ch được ly hôn ông Đỗ Trọng Th.
Về quan hệ con chung: Bà Ch và ông Th không có con chung nên không xem xét, giải quyết.
[2.3] Về quan hệ tài sản: Do bà Ch không yêu cầu và không có quan điểm của ông Th nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Bà Ch không đề nghị miễn nộp tạm ứng án phí và xin miễn án phí nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 39 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Ch được ly hôn ông Đỗ Trọng Th.
2. Về quan hệ con chung: Nguyễn Thị Ch và ông Đỗ Trọng Th không có con chung nên không đặt ra giải quyết.
3.Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ch không đề nghị miễn án phí nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng bà Ch đã nộp tại biên lai số 0001344 ngày 11 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư thành tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ch và ông Đỗ Trọng Th có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vũ Thư;
- Các đương sự;
- UBND xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình;
- TAND tỉnh Thái Bình;
- Lưu hồ sơ;
Nguyễn Thị Xuân Huyền
- Lưu HCTP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Xuân Huyền
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư; - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vũ Thư; - Các đương sự; - UBND xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - TAND tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ;Lưu HCTP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Thị Xuân Huyền |