- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN HUYỆN!HỚN!QUẢN TỈNH!BÌNH!PHƯỚC Bản án số: 56/2022/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 7 – 2022 |
V/v: “Không công nhậnlà vợ chồng”
NHÂN!DANH
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!HỚN!QUẢN,!TỈNH!BÌNH!PHƯỚC
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Ngọc Linh
Ông Nguyễn Đình Như
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa:Ông Lê Quang Vân- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 189/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2022 về việc “Không công nhận vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 11/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: !Bà Lê Thị T, sinh năm: 1972 Trú tại: Tổ 3, ấp 3, xã Đồng Nơ, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước(Vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt);
Bị đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1968
Trú tại: Tổ 03, ấp 3, xã Đồng Nơ, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước(vắng
mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 6 năm 2022, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Về hôn nhân:Bà Lê Thị T và ông Trần Văn K tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1989, không có đăng ký kết hôn, nhưng có tổ chức lễ cưới và được sự đồng ý của hai bên gia đình, sau đó bà T, ông K cùng sinh sống tại tổ 03, ấp 3, xã Đồng Nơ, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng bà T và ông Kchung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau, mâu thuẫn kéo dài nhiều năm liền, nên cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau. Từ tháng 10 năm 2021bà T và ông Ksống ly thân không ai quan tâm gì đến ai, dotình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên bà Lê Thị Tđề nghị Toà án không công nhận bà và ông Trần Văn K là vợ chồng .
Về con chung: Quá trình chung sống với nhau bà T và ông Kcó 03 con chung: Chị Trần Thị Đào, sinh năm: 1990; Trần Thị Kim Lụa, sinh năm: 1992 và Trần Văn Nghĩa, sinh năm: 1994; Hiện nay các con đã trưởng thành và có gia đình riêng nênbà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có
Về nợ chung: Bà T khai không nợ chung của ai cũng không cho ai vay nợ.
* Tại bản tự khai, trước khi mở phiên tòa bị đơn ông Trần Văn K trình bày:
Ông Trần Văn K thống nhất như lời trình bày của bà T về thời gian chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi vã nhau, vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2021 cho đến nay không ai quan tâm gì đến ai, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên ông cũng đồng ý với yêu cầu của bà T, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tkhông công nhận vợ chồng.
Về con chung: Ông K trình bày như bà T. Hiện nay các con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có
Về nợ chung: Không có
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận bà Lê Thị T và ông Trần Văn K là vợ chồng.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Bà Lê Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận ông bà Lê Thị T và ông Trần Văn Klà vợ chồng. Xét ông bà Lê Thị T và ông Trần Văn Kchung sống với nhau từ năm 1989 đến nay vẫn không đăng ký kết hôn, ông K có nơi cư trú tại tổ 03, ấp 03, xã Đồng Nơ, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Căn cứ theo Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về “Không công nhận vợ chồng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
[2] Trước khi mở phiên tòa, bà T và ông Kđều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc xin xét xử vắng mặt của các đương sự, xét xử vắng mặt ông K và bà T theo thủ tục chung.
- Về nội dung:
[3]Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơnbà Lê Thị T đề nghị Tòa án không công nhận giữa bà T và ông Trần Văn Klà vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bà Lê Thị T và ông Trần Văn Ksống chung với nhau từ năm 1989 có tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán, có con chung với nhau nhưng đến nay không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp nên cũng không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Mặt khác, từ tháng 10 năm 2021 cho đến nay hai bên không chung sống với nhau nữa, cắt đứt tình cảm với nhau, không ai quan tâm gì đến ai nữa nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơnbà Tđề nghị Tòa án không công nhận giữa bà và ông Trần Văn Klà vợ chồng, yêu cầu này của bà T cũng được ông Kđồng ý nên yêu cầu nêu trên của bà T được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: Bà T và ông K có 03 con chung, gồm:Chị Trần Thị Đào, sinh năm: 1990; Trần Thị Kim Lụa, sinh năm: 1992 và Trần Văn Nghĩa, sinh năm: 1994. Nhưng các con đều đã trưởng thành nên cả hai bên đều không đề nghị Tòa án giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Không có.
[6] Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[7] Về án phí:Nguyên đơn phảichịu án phí theo quy định.
[8]Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận giữa bà Lê Thị T và ông Trần Văn Klà vợ chồng, là có căn cứ được Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT!ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 9, 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 2, chương I, Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.
1. Tuyên bố không công nhận bà Lê Thị T và ông Trần Văn K là vợ chồng.
2. Về con chung: Con đã trưởng thành nên bà Lê Thị T và ông Trần Văn Kđều không đề nghị Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không có
4. Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí:Nguyên đơn bà Lê Thị T phảichịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0014039ngày 05/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
6. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬThẩm!phán! Nơi!nhận:!
–!Chủ!tọa!phiên!tòa.! -TAND tỉnh Bình Phước
- VKSND H. Hớn Quản;
- Chi cục THADS H. Hớn Quản;
- Các đương sự;
- Lưu: VT,HS.
Hồ!Văn!Thanh!