vanban.org

Bản án 56/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc B về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Buộc ông Trần Ngọc T phải giao cháu Trần Ngọc Trâm A (Giới tính: Nữ) sinh ngày 05.9.2013 cho bà Nguyễn Thị Ngọc B được trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.
  • Căn cứ chính? Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 56/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30.9.2022
V/v: “Tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI – TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Vũ Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Ngọc Thơm

2. Ông Nguyễn Thanh Hoàng

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Chinh – Kiểm sát viên.

Ngày 30.9.2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 317/2022/TLST-HNGĐ, ngày 15.7.2022, về: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 31.8.2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 15.9.2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc B – sinh năm 1998. Có mặt.

Địa chỉ: Số 494F Ấp 7, xã Nhị Thành, huyện T. T, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Trần Ngọc T – sinh năm 1991. Vắng mặt.

Địa chỉ: Số 494F Ấp 7, xã Nhị Thành, huyện T. T, tỉnh Long An.

Chỗ ở: Khu phố 11, phường Bình Tân, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về thay đổi nuôi con ngày 28.6.2022 và lời khai tại Tòa án nhân dân thị xã L, bà Nguyễn Thị Ngọc B – nguyên đơn trình bày:

Căn cứ Bản án số: 39/2020/HNGĐ-ST ngày 25.9.2020 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận phần quyết định Bản án: Giao người con chung tên Trần Ngọc Trâm A, sinh ngày 05.9.2013 cho ông Trần Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay, cháu Trần Ngọc Trâm A và cháu Trần Ngọc T đang sống với ông Trần Ngọc T. Tuy nhiên, ông T không có công ăn việc làm, bản thân lại nghiện ma túy, cha mẹ ông T thì ly thân, nhà không có phải đi ở trọ.

Cháu Trần Ngọc T theo Bản án giao cho bà B nuôi dưỡng, tuy nhiên nhiều lần bà B đến rước cháu thì ông T và cha mẹ ông T không cho. Bà B đã làm đơn đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L nhưng quá trình giải quyết không có kết quả. Bà B đã nhiều lần đến thăm hai cháu, nhưng ông T và cha mẹ ông T không cho thăm mà còn đe dọa và đòi đánh. Mỗi lần bà B về thăm con nhiều người gần nhà ông T nói là các cháu thường xuyên bị ông T đánh. Tháng 6/2022 khi bà B đến gặp cháu A và cháu T thì hai cháu nói muốn về sống với mẹ. Hiện nay cháu A học hết lớp ba, cháu T học lớp một.

Hiện nay, ông T là người nghiện ma túy, không lao động nên không thể nuôi các cháu phát triển bình thường được, nên bà Bích yêu cầu buộc ông Trần Ngọc T giao cháu Trần Ngọc Trâm A cho bà nuôi dưỡng, bà B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa hôm nay, bà B vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình.

Bị đơn: Ông Trần Ngọc T:

Quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Mặc dù, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng tại phiên tòa hôm nay ông T vẫn vắng mặt không lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L và quan hệ pháp luật tranh chấp Tòa án xác định là đúng, Tòa án đưa vụ án ra xét xử phù hợp với quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử và thời hạn đưa vụ án ra xét xử; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và quá trình xét xử vụ án Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc B là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bích, buộc ông Trần Ngọc Trí phải giao cháu Trần Ngọc Trâm A cho bà Nguyễn Thị Ngọc B nuôi dưỡng; Về án phí: Bà B phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Xét yêu cầu thay đổi nuôi con của bà Nguyễn Thị Ngọc B, là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn ông Trần Ngọc T vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét yêu cầu thay đổi nuôi con của bà B, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà B và ông T là vợ chồng, đã ly hôn theo Bản án số: 39/2020/HNGĐ-ST, ngày 25.9.2020 của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Theo phần quyết định của Bản án: Giao người con chung tên Trần Ngọc T, sinh ngày 03.8.2015 (Giới tính: Nam) cho bà Nguyễn Thị Ngọc B trực tiếp nuôi dưỡng; Giao người con chung tên Trần Ngọc Trâm A, sinh ngày 05.9.2013 (Giới tính: Nữ) cho ông Trần Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng; Bà B và ông T không phải cấp dưỡng nuôi người con mà họ không trực tiếp nuôi dưỡng. Theo bà B khai: Sau khi ly hôn, nhiều lần bà B đến rước cháu T thì ông T và cha mẹ ông T không cho. Bà B đã làm đơn đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã L nhưng quá trình giải quyết không có kết quả. Bà B đã nhiều lần đến thăm hai cháu, nhưng ông T và cha mẹ ông T không cho thăm mà còn đe dọa và đòi đánh và nhiều người gần nhà ông T nói là các cháu thường xuyên bị ông T đánh. Tháng 6/2022 khi bà Bích đến gặp cháu A và cháu T thì hai cháu nói muốn về sống với mẹ. Ngoài ra, ông T không có công ăn việc làm, bản thân lại nghiện ma túy, cha mẹ ông T thì ly thân, nhà không có phải đi ở trọ, nên không thể nuôi các cháu phát triển bình thường được. Về phía bị đơn: Quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Mặc dù, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng tại phiên tòa hôm nay ông T vẫn vắng mặt không lý do.

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cần phải xem xét đến việc đảm bảo quyền lợi cho con về mọi mặt. Qua xác minh tại địa phương thì ông Trần Ngọc T có sinh sống tại khu phố 11, phường Bình Tân, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Quá trình sinh sống, ông T có nuôi dưỡng con chung là cháu Trâm A và cháu T. Tuy nhiên, ở địa phương nhận thấy ông T thường xuyên nghiện hút ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, bỏ bê con cái và không quan tâm đến các con có nhiều người địa phương chứng kiến và biết sự việc. Ngoài ra, ông T cũng thường cản trở việc thăm nom con chung của bà Nguyễn Thị Ngọc B nên bà không thể dắt cháu Trần Ngọc Trâm A lên Tòa ghi lời khai để xem xét nguyện vọng của cháu. Hiện nay, bà B có việc làm thu nhập ổn định, đảm bảo việc nuôi dưỡng hai con. Vì vậy, để đảm bảo đến lợi ích của cháu Trâm A, Hội đồng xét xử xét chấp nhận việc thay đổi nuôi con của bà B: Buộc ông Trần Ngọc T phải giao cháu Trần Ngọc Trâm A (Giới tính: Nữ) cho bà Nguyễn Thị Ngọc B nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về án phí: Bà B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1, 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 262, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 về án phí.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc B về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

Buộc ông Trần Ngọc T phải giao cháu Trần Ngọc Trâm A (Giới tính: Nữ) sinh ngày 05.9.2013 cho bà Nguyễn Thị Ngọc B được trực tiếp nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Ngọc B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Bích đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai số 0005250 ngày 12.7.2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L. Bà B đã nộp đủ tiền án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, báo cho bà Nguyễn Thị Ngọc B biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2022). Riêng bị đơn ông Trần Ngọc T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.

Cỡ chữ