vanban.org

Bản án 56/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị U. Buộc bà Trương Thị Ngọc L trả cho bà Nguyễn Thị U số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng). Việc trả nợ được thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án dân sự"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật tố tụng dân
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 56/2022/DS-ST
Ngày: 23-9- 2022
“V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mộng Lành và bà Nguyễn Ngọc Duyên .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn văn Mau – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên tỉnh Kiên Giang.

Trong ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2022 về viê ̣c “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2022/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2022, và Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2022/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1963

Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

2. Bị đơn: Bà Trương Thị Ngọc L, sinh năm 1982

Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị U trình bày:

Vào ngày 29/8/2020 âm lịch vì cần tiền làm vốn (mua cây tràm về bán lại) nên bà Trương Thị Ngọc L (gọi tắt là bà L) có đến hỏi vay bà Nguyễn Thị U (gọi tắt là bà U) số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) thỏa thuận lãi suất là 5%/tháng. Khi vay tiền các bên không làm giấy tờ biên nhận nợ với nhau bà L hứa sẽ đóng lãi hàng tháng và tranh thủ trả tiền nợ gốc cho bà U trong thời gian sớm nhất.

Tuy nhiên từ sau khi vay tiền bà L không thực hiện đóng lãi và cũng không trả tiền vốn trong khi bà U nhiều lần đòi nợ. Trong đơn khởi kiện bà U yêu cầu bà L trả số nợ vay 13.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 20/8/2020 âm lịch đến ngày 29/3/2022 là 9.500.000 đồng và tính lãi theo thỏa thuận cho đến ngày xét xử vụ án.

Tại phiên tòa bà U chỉ yêu cầu bà L trả nợ số tiền vay là 13.000.000 đồng và không tiếp tục yêu cầu bà L phải trả lãi.

Bà U không yêu cầu tính lãi suất chậm trả tiền.

Bà Trƣơng Thị Ngọc L đã đƣợc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhƣng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện, không có yêu cầu phản tố và không có ý kiến phản đối trƣớc yêu cầu khởi kiện của bà U.

Kết quả thu thập chứng cứ:

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm: 01 Biên bản hòa giải tại ấp C, xã H, bị đơn không cung cấp chứng cứ.

Qua yêu cầu khởi kiện và ý kiến của các đƣơng sự đã thống nhất và không thống nhất với nhau các vấn đề sau:

Nội dung thống nhất: Không có

Nội dung không thống nhất: Bà U xác định bà L còn nợ số tiền 13.000.000 đồng và yêu cầu bà U trả số nợ 13.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật có tranh chấp giữa các đương sự: Nội dung khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp do vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ hợp đồng dân sự và các đương sự cùng có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên và quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai, căn cứ vào khoản 2 điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt đối với bà L.

Trong đơn khởi kiện bà U yêu cầu bà L trả số nợ vay 13.000.000 đồng và tiền lãi theo thỏa thuận tính đến tháng 3 năm 2022 là 9.500.000 đồng. Tại phiên tòa bà U chỉ yêu cầu bà L trả số tiền vay là 13.000.000 đồng và không tiếp tục yêu cầu phần tiền lãi. Nhận thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên áp dụng Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của bà U, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà U khởi kiện yêu cầu bà L trả số nợ 13.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 29/8/2020 âm lịch cho đến ngày xét xử, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có Thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bà L không có ý kiến phản hồi hay phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đồng thời không cung cấp chứng cứ chứng minh việc đã trả nợ.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Quá trình khởi kiện bà U cung cấp chứng cứ là biên bản hòa giải của ban lãnh đạo ấp C, xã H ngày 08/5/2021. Tại biên bản hòa giải của ban lãnh đạo ấp C thể hiện bà L thừa nhận có nợ của bà U 13.000.000 đồng, tuy nhiên các bên không thỏa thuận được phương án trả nợ trong khi bà U yêu cầu bà L trả 1.000.000 đồng/1 tháng thì bà L xin trả 500.000 đồng/1 tháng. Như vậy, mặc dù khi vay tiền các bên không làm biên nhận xác nhận nợ nhưng lời thừa nhận nợ của bà L trong Biên bản hòa giải ngày 08/5/2021 của ban lãnh đạo ấp C, xã H là căn cứ để xác định việc bà L có nợ bà U 13.000.000 đồng là sự thật. Đến nay và U xác định bà L vẫn không thực hiện việc trả nợ nhưng bà L không có ý kiến phản đối, như vậy bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ do đó việc bà U yêu cầu bà L trả nợ là có cơ sở. Căn cứ vào Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự buộc bà L phải trả cho bà U số tiền vay còn nợ là 13.000.000 đồng.

Bà U không tiếp tục yêu cầu bà L phải trả tiền lãi nên không tiếp tục xem xét.

Về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền bà U không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí của vụ án: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật. Án phí bà L phải nộp là: 13.000.000 đồng x 5% = 650.000 đồng.

Bà U được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 562.500 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân năm 2015;

Áp dụng Điều 280, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị U.

Buộc bà Trương Thị Ngọc L trả cho bà Nguyễn Thị U số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng). Việc trả nợ được thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Bà Nguyễn Thị U không có yêu cầu nên không xem xét.

2. Về án phi vụ kiện: Bà Trương Thị Ngọc L phải nô ̣p án phi dân sự sơ thẩm là

́

́ 650.000 đồng (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Bà Nguyễn Thị U được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 562.500 đồng (Năm trăm sáu mươi hai nghìn, năm trăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0004813 ngày 10/5/2022 của Chi cu ̣c thi hành án dân sự huyện An Biên , tỉnh Kiên Giang tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên.

3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 23/9/2022, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trườ ng hợp bản á n , quyết đi ̣nh được thi hà nh theo quy đi ̣nh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng ười được thi hành án dân sự , ngườ i phải thi hà nh á n dân sự có quyền thỏa thuận thi hà nh á n , quyền yêu cầu thi hà nh á n , tự nguyê ̣n thi hà nh á n hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hà nh á n dân sự; Thờ i hiê ̣u thi hà nh á n được thực hiê ̣n theo quy đi ̣nh tại Điều 30 Luật thi hà nh án dân sự./.

Cỡ chữ